Thị Thu H2, Lường Thị N1, Lò Thị T3, Nguyễn Thị L4 và Hà Thị H1.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Bị cáo Phùng Thiên S xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo; về nội dung
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với
mình thì bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Bị
cáo đồng ý với nội dung kháng nghị truy thu số tiền bị cáo được bị cáo Bùi Thị
T4 trả lương là số tiền thu lời bất chính và đề nghị tạm giữ chiếc xe máy nhãn
hiệu Honda SH125i màu ghi xám, BKS 29V1- 92295 do cơ quan điều tra đã thu
giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Nguyễn Văn L3 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt. Bị cáo trình bày bị cáo phạm tội do bị cáo V2 rủ rê, không phải là người trực
tiếp mua và sử dụng ma túy, nhân thân tốt lần đầu phạm tội, bị cáo rất ân hận về
hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động
chính; trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt mọi quy định, tham gia tích cực đối
-- 12 of 22 --
13
với việc đóng góp tu sửa đình chùa của địa phương. Mong được giảm nhẹ hình
phạt để được sớm trở về với gia đình.
- Bị cáo Bùi Thị T4 đề nghị Hội đồng xét xử xét giữ nguyên hình phạt đối
với bị cáo. Vì bị cáo quê hương ở xa đã cố gắng vượt qua khó khăn để nuôi sống
gia đình; bị cáo giao toàn quyền quản lý và kinh doanh quán Karaoke cho bị cáo
Phùng Thiên S nên thiếu sát sao dẫn đến phạm tội. Bị cáo nhất trí đối với nội dung
kháng nghị về việc truy thu số tiền thu lời bất chính là 360 triệu đồng, nhất trí tạm
giữ các sổ tiết kiện mà cơ quan điều tra đã thu giữ để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo Vũ Kim N xác định bị cáo không kháng cáo bản án sơ thẩm; về nội
dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối
với mình thì bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định.
- Các bị cáo Bùi Thị Thu H2, Lường Thị N1, Lò Thị T3, Nguyễn Thị L4, Hà
Thị H1 đều nhất trí với nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Hà Nội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo vì
các bị cáo đều phạm tội do hoàn cảnh là người làm công ăn lương, hiểu biết pháp
luật hạn chế; vì mưu sinh mà phạm tội. Bị cáo Hà Thị H1 khi phạm tội đang mang
thai và hiện đang nuôi con nhỏ.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành
đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của các bị cáo Phùng
Thiên S và Nguyễn Văn L3, kháng nghị trong thời hạn luật định, hình thức nội
dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về kháng cáo, kháng nghị:
+ Đối với bị cáo Phùng Thiên S: Tại Bản án sơ thẩm đã nhận định: “…Phùng
Thiên S là chủ mưu, nhiều lần mua bán trái phép 39,046 gam ma túy, thu lời bất
chính 8,1 triệu đồng; Vũ Kim N là người bán trái phép 22,93 gam ma túy
Ketamine cho Phùng Thiên S, thu lời bất chính 10 triệu đồng”. Từ đó, cấp sơ thẩm
xử phạt bị cáo S 09 năm tù, bị cáo N 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma
túy” là có phần nhẹ hơn bị cáo N; tuy nhiên bản thân bị cáo N có 03 tiền án, chưa
được xóa án tích, hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy
hiểm”. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng Thiên S đã rút kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt; do đó, đại diện Viện Công tố rút kháng nghị về yêu cầu
tăng hình phạt đối với bị cáo S. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử nội dung
này đối với bị cáo Phùng Thiên S theo quy định.
+ Đối với bị cáo T4 có vai trò sau bị cáo S, mang tính chất thấp hơn, hình
phạt 8 năm tù có phần nhẹ, đề nghị chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt đối với
T4 từ 6 tháng đến 01 năm tù.
+ Đối với bị cáo N tham gia mua bán trái phép chất ma túy với Phùng Thiên
S mục đích để kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung số tiền 10.000.000
đồng. Quá trình mua bán ma túy, bị cáo S đã chuyển qua tài khoản cho bị cáo N
-- 13 of 22 --
14
số tiền 15 triệu đồng nhưng tại bản án sơ thẩm mới chỉ truy thu số tiền 10 triệu
đồng là chưa đúng. Đề nghị chấp nhận kháng nghị để truy thu toàn bộ số tiền 15
triệu đồng là tiền thu lợi bất chính mới đúng quy định; về hình phạt, bị cáo N trình
bày bị cáo không kháng cáo mà chỉ có đơn đề nghị xem xét giảm hình phạt nên
không có cơ sở xem xét.
+ Đối với nội dung áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo N, S, Tuyến:
Do các bị cáo đã bị truy thu các khoản tiền, đồng thời đảm bảo bản án thi hành
triệt để nên không cần phạt bổ sung các bị cáo nên đại diện Viện Công tố rút nội
dung kháng nghị này.
+ Đối với nội dung kháng nghị giảm hình phạt đối với các bị cáo H1, H2,
N1, T3, L4: Mức án Tòa án tuyên đối với các bị cáo H2, N1, T3, L4, H1 07 năm
06 tháng tù đối với mỗi bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là
quá cao, không phanan hóa vai trò đồng phạm, phạm tội do thụ động, lệ thuộc vì
các bị cáo đều là nhân viên phục vụ tại quán Karaoke và được T4 trả lương; tại
phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thể hiện thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối
cải; có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên
cần áp dụng Điều 54, Điều 58 BLHS đối với các bị cáo; đề nghị HĐXX chấp nhận
kháng nghị, giảm hình phạt cho mỗi bị cáo từ 1 đến 02 năm tù.
+ Đối với bị cáo L3: Do bị cáo V2 rủ rê lôi kéo, vai trò Lượng thấp hơn V2,
tuy nhiên xử V2 và L3 cùng mức án 8 năm tù là quá nghiêm khắc, tại cấp phúc
thẩm bị cáo cung cấp thêm một số tình tiết mới nên có căn cứ chấp nhận kháng
cáo đối với L3; đề nghị giảm cho bị cáo L3 từ 1-2 năm tù.
* Luật sư Nguyễn Thị Ánh N2 bào chữa cho bị cáo L3 nêu quan điểm: Nhất
trí với nội dung đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
tại phiên tòa đã đánh giá hành vi của bị cáo và đề nghị HĐXX giảm cho bị cáo từ
01 đến 02 năm tù. Lý do: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu do bị rủ rê,
không trực tiếp khởi xướng và sử dụng ma túy, bị cáo là lao động chính, thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất
nhiều hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa
phúc thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc
khiếu nại gì. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
-- 14 of 22 --
15
[1.2] Kháng cáo của các bị cáo Phùng Thiên S, Nguyễn Văn L3; kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trong hạn luật định, hình thức và
nội dung phù hợp, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Ngày 12/11/2025 bị cáo Vũ Kim N có đơn xin được giảm nhẹ hình phạt, tại
phiên tòa bị cáo xác định bị cáo chỉ làm đơn đề nghị được xem xét chứ không phải
là đơn kháng cáo. Bị cáo Vũ Kim N còn bị kháng nghị xem xét áp dụng thêm hình
phạt bổ sung và số tiền truy thu. Do vậy các nội dung này sẽ được xem xét khi
đánh giá toàn diện nội dung đối với bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn L3 đã được gia đình đóng 200.000 đồng tiền án phí hình
sự sơ thẩm tại Thi hành án dân sự Hà Nội nên được chấp nhận để xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng Thiên S xin rút toàn bộ nội dung
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Công tố và xét xử phúc thẩm rút
nội dung kháng nghị về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Phùng Thiên S. Do đó
Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử nội dung này đối với bị cáo Phùng Thiên S theo
quy định.
Các bị cáo khác không có thêm tài liệu gì mới.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn
Văn L3; nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Hà Nội về tăng hình phạt đối với bị cáo Bùi Thị T4; nội dung áp dụng hình phạt
bổ sung, truy thu số tiền thu lời bất chính đối với các bị cáo Phùng Thiên S, Vũ
Kim N và Bùi Thị T4, nội dung đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo Bùi Thị
Thu H2, Lường Thị N1, Lò Thị T3, Nguyễn Thị L4 và Hà Thị H1 nêu trong kháng
nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử
thấy:
[2.1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đều tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội
đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định, không oan. Căn cứ vào các tài
liệu có trong hồ sơ và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
có đủ cơ sở kết luận:
Phùng Thiên S là chủ mưu, nhiều lần mua bán trái phép 39,046 gam ma túy
(gồm 29,23 gam Ketamine; 8,736 gam MDMA; 1,08 gam hỗn hợp Ketamine +
MDMA) là từ bị cáo Vũ Kim N, thu lời bất chính 8,1 triệu đồng. Nhiều lần tổ
chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy tại các phòng hát quán K4.
Vũ Kim N là người bán trái phép 22,93 gam ma túy Ketamine cho Phùng
Thiên S, thu lời bất chính 15 triệu đồng. Bản thân N có 03 tiền án, chưa được xóa
án tích, hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Tại bản án sơ thẩm đã xác định “Nguyễn Văn L3 là khách đến quán hát
Karaoke, bàn bạc thống nhất tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma
túy tại phòng hát quán K4” là chưa chính xác. Theo nội dung bản án sơ thẩm thì
trong phòng hát VIP6, bị cáo Phùng Bá V2 là người rủ rê bị cáo L3 đi hát tại quán
-- 15 of 22 --
16
K4, bị cáo V2 là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện việc trao đổi với bị cáo
S để mua và sử dụng chất ma túy trong phòng hát…” . Do đó nhận định này tại
bản án sơ thẩm là không đúng và gây bất lợi cho bị cáo Nguyễn Văn L3 nên cần
được đánh giá khách quan liên quan đến việc lượng hình đối với bị cáo.
Bùi Thị Thu H2, Lò Thị T3, Lường Thị N1, Nguyễn Thị L4, Hà Thị H1 là
nhân viên phục vụ tại quán K4, biết Sắc bán ma túy và cho khách sử dụng ma túy
tại phòng hát, tham gia cùng nhiều khách tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
tại phòng hát Karaoke.
Bùi Thị T4 là chủ quán K4, thuê Sắc quản lý quán, mặc dù T4 biết nhưng đã
để mặc cho S nhiều lần, tổ chức cho nhiều khách sử dụng trái phép chất ma túy
tại các phòng hát quán Karaoke của mình.
Do có hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phùng Thiên S
về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy” quy định tại điểm b, c, p khoản 2 Điều 251, điểm a, b khoản 2 Điều 255
Bộ luật Hình sự 2015; Vũ Kim N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định
tại điểm n, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; Nguyễn Văn L3, Bùi Thị
Thu H2, Lường Thị N1, Lò Thị T3, Nguyễn Thị L4, Hà Thị H1 về tội “Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình
sự 2015; Bùi Thị T4 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy
định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng pháp
luật như bản án sơ thẩm đã xác định là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của
pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị
cáo Nguyễn Văn N3, Nguyễn Trung T5, Phùng Bá V2, Nguyễn Danh C, Nguyễn
Bá H6, Ngô Hồng Á, Nguyễn Như Q1 nhưng các bị cáo này không kháng cáo,
không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L3:
Tại bản án sơ thẩm đã nhận định “Nguyễn Văn L3 được các bị cáo khác rủ
rê tổ chức sử dụng chất ma túy tại phòng hát nhất trí, do vậy bị cáo đã đồng phạm
với N3, T5, V2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng với vai trò
thấp hơn” là đúng với diễn biến và bản chất của hành vi phạm tội của các bị cáo
tại phòng hát VIP 6. Theo đó, bị cáo Phùng Bá V2 là người rủ rê bị cáo L3 đi hát
tại quán K4; bị cáo V2 là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện việc trao đổi
với bị cáo S để mua và sử dụng chất ma túy trong phòng hát; các bị cáo Nguyễn
Thị L4 và Lò Thị T3 do bị cáo S phân công vào phòng sau khi bị cáo V2 liên hệ
với S để đưa vào cùng sử dụng ma túy với bị cáo V2, bị cáo S không hít K2 do bị
cáo L4 đưa cho. Nhưng khi quyết định hình phạt, tại bản án sơ thẩm đã quyết định
hình phạt đối với cả bị cáo V2 và bị cáo L3 mỗi bị cáo đều chịu 08 năm tù là chưa
phân hóa vai trò, tính chất hành vi của từng bị cáo. Do đó cần chấp nhận kháng
cáo để giảm cho bị cáo Nguyễn Văn L3 một phần hình phạt mới công bằng như
-- 16 of 22 --
17
quan điểm của Viện công tố và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại
phiên tòa là phù hợp.
[2.3] Đối với nội dung kháng nghị đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo
Bùi Thị Thu H2, Lường Thị N1, Lò Thị T3, Nguyễn Thị L4 và Hà Thị H1.
Tại bản án sơ thẩm đã nhận định “Bùi Thị Thu H2, Lò Thị T3, Lường Thị
N1, Nguyễn Thị L4, Hà Thị H1 là nhân viên phục vụ tại quán K4, biết Sắc bán
ma túy và cho khách sử dụng ma túy tại phòng hát, tham gia cùng nhiều khách tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát Karaoke” là có căn cứ và hình
phạt đã áp dụng đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc. Nội dung kháng nghị
nêu việc các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật
Hình sự để cho các bị cáo này hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt cũng cần được cân nhắc. Đối với bị cáo Hà Thị H1 phạm tội khi đang mang
thai và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên mức giảm hình phạt cho bị
cáo dưới khung hình phạt áp dụng là thỏa đáng. Đối với các bị cáo Bùi Thị Thu
H2, Lò Thị T3, Lường Thị N1, Nguyễn Thị L4 đều là nhân viên phục vụ nhưng
tham gia với vai trò chủ động, tích cực, đều trực tiếp cùng sử dụng ma túy với các
bị cáo cùng trong phòng hát. Do vậy áp dụng mức hình phạt ở mức khởi điểm của
khung hình phạt là phù hợp, đủ sức giáo dục đối với các bị cáo nên chỉ chấp nhận
một phần kháng nghị về nội dung này.
[2.4] Xét nội dung kháng nghị về việc tăng hình phạt đối với bị cáo Bùi Thị
T4, Hội đồng xét xử thấy: Tại bản án sơ thẩm đã nhận định: “Bùi Thị T4, là chủ
quán Karaoke Ngọc A1, thuê Sắc quản lý quán, mặc dù T4 biết nhưng đã để mặc
cho S nhiều lần, tổ chức cho nhiều khách sử dụng trái phép chất ma túy tại các
phòng hát quán Karaoke của mình” là có căn cứ. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng
phạm, tuy là chủ quán Karaoke Ngọc A1 nhưng đã thuê bị cáo Phùng Thiên S làm
quản lý toàn quyền điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của quán này; bị
cáo biết nhưng bỏ mặc cho Phùng Thiên S thực hiện hành vi phạm tội. Do đó việc
xét xử bị cáo là cần thiết và mức hình phạt 08 năm tù là nhẹ hơn mức hình phạt
11 năm tù áp dụng đối với bị cáo Phùng Thiên S là cơ bản phù hợp, đủ tác dụng
giáo dục đối với bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải và tự
nguyện chấp nhận việc truy thu số tiền thu lời bất chính từ số tiền 360 triệu đồng
tiền bị cáo S trả tiền thuê quán được ghi nhận. Mức hình phạt mà đại diện Viện
Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị tăng đối với bị cáo từ 06 tháng đến
01 năm tù là có phần nghiêm khắc và không thực sự cần thiết. Vì vậy, áp dụng
tình nhân đạo của pháp luật, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đã áp dụng.
Đối với nội dung đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Kim N, Hội đồng
xét xử thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”, trước đó bị
cáo vừa bị xử phạt và chấp hành án phạt tù cùng về tội phạm mua bán trái phép
chất ma túy, vừa ra tù lại tiếp tục phạm tội. Do đo không có căn cứ để xem xét
giảm hình phạt cho bị cáo.
-- 17 of 22 --
18
[2.4] Về nội dung kháng nghị đối với hình phạt bổ sung và truy thu số tiền
thu lời bất chính đối với bị cáo Phùng Thiên S, Vũ Kim N và Bùi Thị T4.
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Phùng Thiên S đã nhiều lần mua bán trái phép
39,046 gam ma túy đã thu lời bất chính 8,1 triệu đồng; do vậy, tại bản án sơ thẩm
đã quyết định truy thu số tiền này là đúng. Bị cáo đã nhiều lần tổ chức cho nhiều
người sử dụng trái phép chất ma túy tại các phòng hát quán K4 để thu hút khách,
tăng doanh thu. Do vậy, cần chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng hình phạt bổ sung số tiền 50.000.000
đồng đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 10.000.000 đồng đối
với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp chung cho hai tội buộc bị cáo
phải chấp hành hình phạt bổ sung 60.000.000 đồng. Do việc tổ chức các hoạt động
trên là trái phép nhưng được bị cáo T4 trả lương với số tiền 56 triệu đồng là tiền
thu lợi bất chính nên cần truy thu số tiền này mới đúng quy định. Tại phiên tòa
phúc thẩm, bị cáo Phùng Thiên S thừa nhận và nhất trí đề nghị Hội đồng xét xử
truy thu các khoản như đã nêu trên nên được ghi nhận.
Đối với bị cáo Vũ Kim N mua bán trái phép chất ma túy với Phùng Thiên S
mục đích để kiếm lời nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là cần thiết. Quá trình
mua bán ma túy, bị cáo S đã chuyển qua tài khoản cho bị cáo N số tiền 15 triệu
đồng nhưng tại bản án sơ thẩm mới chỉ truy thu số tiền 10 triệu đồng là chưa đúng.
Nay cần chấp nhận kháng nghị để truy thu toàn bộ số tiền 15 triệu đồng là tiền thu
lợi bất chính mới đúng quy định.
Đối với bị cáo Bùi Thị T4, là chủ quán Karaoke Ngọc A1; tuy có hợp đồng
cho S thuê quán Karaoke Ngọc A1 và S là trực tiếp quản lý quán, nhưng T4 biết
và đã để mặc cho S nhiều lần, tổ chức cho nhiều khách sử dụng trái phép chất ma
túy tại các phòng hát quán Karaoke của mình để tăng lợi nhuận. Thực tế đã được
bị cáo Phùng Thiên S chuyển cho 360 triệu đồng qua tài khoản là khoản tiền thu
lời bất chính từ hoạt động của quán K4. Vì vậy, tại bản án sơ thẩm đã không truy
thu số tiền này do các bị cáo phạm tội mà có và phạt bổ sung đối với bị cáo là
không đúng quy định của pháp luật. Do đó, cần chấp nhận kháng nghị của Viện
trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội áp dụng hình phạt
bổ sung số tiền 50.000.000 đồng và truy thu số tiền 360.000.000 đồng tiền thu lợi
bất chính (được trừ đi số tiền Phùng Thiên S chuyển vào tài khoản: 98.624.824
đồng; 5.784.778 đồng trong tài khoản của Ngân hàng TMCP M1 và tài khoản
Ngân hàng TMCP M1 số: 9616786786666, của Nguyễn Thị K3 là tiền thu lợi bất
chính từ hoạt động kinh doanh Karaoke Ngọc A1) theo đúng quy định. Do sai sót
nêu trên của bản án sơ thẩm nên đã quyết định trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu
Honda SH cho bị cáo Phùng Thiên S; trả lại 05 số tiết kiệm đứng tên bị cáo Bùi
Thị T4 cũng là không đúng. Cần tiếp tục tạm giữ các tài sản của các bị cáo để đảm
bảo thi hành án.
-- 18 of 22 --
19
[5] Quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại
Hà Nội tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được
chấp nhận.
[6] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên các bị cáo không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 348; các điều 355, 356 và 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Phùng Thiên S
và nội dung Kháng nghị số 01/QĐ-VKSHN-P1 ngày 10/10/2025 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về nội dung hình phạt chính đối với bị
cáo Phùng Thiên S. Quyết định về hình phạt chính của Bản án hình sự sơ thẩm số
726/2025/HSST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình
phạt chính đối với bị cáo Phùng Thiên S có hiệu lực pháp luật.
Chấp nhận một phần Kháng nghị số 01/QĐ-VKSHN-P1 ngày 10/10/2025
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về nội dung hình phạt
bổ sung, tiền truy thu đối với bị cáo Phùng Thiên S (Bùi Thị T4 và Vũ Kim N?;
sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể:
Tuyên bố:
Bị cáo Phùng Thiên S phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b, c, p khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm a, b khoản 2, khoản 5