CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcUBND xã H, tỉnh Lâm Đồng) vào ngày 12 tháng 10 năm 2015 theo Giấy chứng
2
Đồng. Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng bà hòa
thuận, hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được. Tuy nhiên,
đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết được.
Nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng
sống chung nhà nhưng không thể chia sẻ, động viên quan tâm với nhau. Đến nay
mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vãn được, bà xác định
không còn tình cảm với ông H1, không thể tiếp tục chung sống với nhau. Vợ
chồng bà sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân
không đạt được, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc như mong
muốn, tiếp tục kéo dài chỉ khiến cả hai mệt mỏi. Do đó, bà đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Lâm Đồng quyết ly hôn giữa bà và ông Nguyễn Huân . Về con
chung: Vợ chồng bà không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có nên bà không yêu cầu Tòa
án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung nên không
yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đồng thời bà H có đơn đề nghị Tòa án giải
quyết vắng mặt.
Tại Bản tự khai ngày 01/4/2026, bị đơn ông Nguyễn H1 trình bày: Về
quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Thu H có quen biết nhau vào năm
2015 và đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND
xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cũ, có tổ chức dám cưới theo phong tục tập
quán. Quá trình chung sống hoà thuận được 9 năm thì vợ chồng có phát sinh
mâu thuẫn lý do nguyên nhân là do vợ chồng không có con. Khoảng 3 năm nay
vợ chồng đã sống ly thân ít khi gặp nhau. Ông thì chạy xe đường dài tuyến bắc
nam còn bà H thì đang học ngoài Hà Nội nên tình cảm vợ chồng cũng không
còn như trước đây. Nay, bà H yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng
giải quyết ly hôn thì ông đồng ý để Toà án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng giải
quyết ly hôn theo yêu cầu ly hôn của bà H và ông cũng đồng ý lý hôn theo đơn
ly hôn của bà H để hai bên ổn định cuộc sống. Về con chung: Quá trình chung
sống giữa ông và bà H không có con chung nên ông không yêu cầu Toà án xem
xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông không có tài sản
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.