CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc34/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
2
Nay bà O xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu ly hôn với
ông Hồ Văn Đ.
Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Thị Yến N, sinh năm 1994 và Hồ
Văn Nhật T, sinh năm 1998; hiện các con chung đã trưởng thành nên không yêu
cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà O và ông Đ tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án
giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ông Hồ Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để
tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Đ không đến Tòa án nên không có
lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long phát biểu quan
điểm:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký
phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn theo đúng quy
định pháp luật. Bị đơn vắng mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là không chấp
hành đúng quy định.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim O; về con chung: có 02 con
chung hiện đã trưởng thành nên không xem xét; về tài sản chung: tự thoả thuận;
nợ chung: không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim O yêu cầu ly hôn với ông Hồ Văn Đ
nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ
luật tố tụng dân sự; ông Đ có nơi cư trú tại phường B, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.