của Chính phủ.
Qua rà soát Tờ trình ngày 19 tháng 11 năm 2007 của Cục T7 liên quan
đến việc xác định tiền thuế sử dụng đất, cụ thể như sau:
I- Về tiền sử dụng đất :
a - Diện tích đất tính tiền sử dụng đất:
….
b - Về giá đất ở tính tiền sử dụng đất:
- Khu đất được giao của T4 áp dụng giá đất là: 560.000đồng/m².
c- Về diện tích đất ở không thu tiền sử dụng đất:
-- 13 of 24 --
14
Căn cứ khoản 3, Điều 6, Chương II
Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày
03/12/2004 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất thì “Chuyển mục
đích sử dụng từ đất ở được giao sử dụng ổn định lâu dài sang đất làm mặt bằng
sản xuất, kinh doanh thì không thu tiền sử dụng đất”.
Như vậy theo Bản đồ hiện trạng và vị trí số 25018/GĐ-TNMT ngày
05/9/2004 của Sở T6 phê duyệt thì tổng diện tích đất giao là 1.046,3m2 trong đó
bao gồm 783,4m2 đất ở không thu tiền sử dụng đất, cụ thể như sau:
Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số
70139270965 của Ủy Ban Nhân Dân Huyện B cấp ngày 20/08/2001 cho bà
Hoàng Thị H1 thì diện tích đất ở của thửa đất số 203, tờ bản đồ số 03 là: 399m².
Ngày 05/04/2002, bà Hoàng Thị H1 chuyển nhượng lô đất cho ông Đào Trung
V2 và bà Nguyễn Thị Lan A (Chủ T4) và có xác nhận của Ủy ban nhân dân
Huyện B toàn bộ diện tích lô đất trên.
Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số
70139270967 của Ủy Ban Nhân Dân Huyện B cấp ngày 31/10/2002 cho bà
Trần thị Kim P thì diện tích đất ở của thửa đất số 205, tờ bản đồ số 03 là:
183,4m². Ngày 08/01/2003, bà Trần Thị Kim P chuyển nhượng lô đất cho ông
Đào Trung V2 và bà Nguyễn Thị Lan A (Chủ T4) và có xác nhận của UBND
Huyện B toàn bộ diện tích lô đất trên.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số 1122/QĐ-UB ngày
02/04/2002 của Ủy Ban Nhân Dân Huyện B cấp cho ông Đào Trung V2 thì diện
tích đất ở của thửa đất đất số số 523, tờ bản đồ số 07 là: 201m².
Tất cả số diện tích đất trên, ông Đào Trung V2 đã kê khai nộp lệ phí trước
bạ tại Huyện B.
Như vậy số diện tích đất được giao tính tiền sử dụng đất là: 1.046,3m2 -
783,4m2 = 262,9m2.
+ Diện tích đất tính tiền sử dụng đất: 262,9m².
+ Diện tích đất không thu tiền sử dụng đất: 783,4m2.
+ Giá đất SXKD: 560.000 đồng/m2.
Tiền sử dụng đất phải nộp của T4: 262,9m² x 560.000 đồng =
147.224.000 đồng.
Giảm trừ tiền sử dụng đất do sử dụng dưới 70 năm là 24%: 147.224.000
đồng x 24%= 35.333.760 đồng.
Tiền sử dụng đất còn phải nộp: 147.224.000 đồng - 35.333.760 đồng =
111.890.240 đồng.
Như vậy, phần diện tích 783,4m²/1046,3m2 có nguồn gốc nhận chuyển
nhượng, mục đích sử dụng là đất ở nên không thu tiền sử dụng đất khi giao đất
cơ sở sản xuất kinh doanh; phần diện tích 262,9m²/1046,3m2 có nguồn gốc nhận
chuyển nhượng; mục đích sử dụng là đất nông nghiệp (đất vườn) nên có tính
tiền sử dụng đất khi giao đất cơ sở sản xuất kinh doanh.
-- 14 of 24 --
15
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 7
Nghị định 47/2014/NĐ-CP có quy định (G)
như sau: (G) là Giá đất cụ thể tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; nếu đất
được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thì G là giá đất cụ thể tính tiền
sử dụng đất, nếu đất được Nhà nước cho thuê trả tiền một lần cho cả thời gian
thuê thì G là giá đất cụ thể tính tiền thuê đất.
Từ cơ sở nêu trên, Ủy ban nhân dân Huyện B đã ban hành Quyết định số
3855/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2024 phê duyệt kèm Phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư số 1675/PABT-HĐBT ngày 10 tháng 05 năm 2024
đối với bà Nguyễn Thị Thu T1, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất là
18.082.921.306 đồng đối với diện tích 1.046,3m², cụ thể:
- Phần diện tích 783,4m² x 22.986.348 đồng/m² (là đơn giá 1m2 đất để
bồi thường theo thời gian sử dụng đất còn lại (G) theo giá đất cụ thể tại thời
điểm có quyết định thu hồi đất) = 18.007.505.023 đồng
+ Phần diện tích 262,9m² x 286.863đồng/m2 (là đơn giá 1m2 đất để bồi
thường theo thời gian sử dụng đất còn lại (G) theo giá đất cụ thể tính tiền sử
dụng đất) = 75.416.283 đồng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc lấy (G) là giá đất cụ thể tính tiền sử dụng
đất để tính bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất có diện tích 262,9m² với đơn giá
là 286.863 đồng/m2 sẽ thấp hơn rất nhiều so với đơn giá đất nông nghiệp cùng vị
trí để tính bồi thường là 5.496.000 đồng/m2.
Đồng thời, do Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt
áp dụng cho Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành
đai 3 và Chính sách theo
Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8
năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ quy định về bồi thường, hỗ trợ
phi nông nghiệp không phải là đất ở cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
nhưng được miễn tiền thuê đất do thực hiện chính sách đối với người có công
với cách mạng đang trực tiếp sử dụng đất thì được bồi thường về đất. Việc bồi
thường được thực hiện bằng việc cho thuê đất có cùng mục đích sử dụng với
loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền
theo thời hạn sử dụng đất còn lại theo Khoản 1, Điều 9
Quyết định số
28/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Ủy ban nhân dân Thành
phố nhưng lại không có quy định đối với trường hợp đất có nguồn gốc do hộ gia
đình, cá nhân sau đó được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm cơ
sở sản xuất và người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính 1 lần cho cả
thời hạn được giao đất (trường hợp của bà Nguyễn Thị Thu T1 là giao 50 năm).
Ủy ban nhân dân huyện B đã có Báo cáo số 333/BC-UBND ngày 10
tháng 5 năm 2024, Báo cáo số 537/BC-UBND ngày 08 tháng 7 năm 2024, Báo
cáo số 586/BC-UBND ngày 19 tháng 7 năm 2024, Báo cáo số 723/BC-UBND
ngày 27 tháng 8 năm 2024 kiến nghị Ban Chỉ đạo bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thành phố xem xét hướng dẫn việc tính bồi thường, hỗ trợ đối với bà Nguyễn
Thị Thu T1.
-- 15 of 24 --
16
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, Ban Chỉ đạo bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Thành phố có Công văn số 213/BCĐBT gửi Ủy ban nhân dân huyện B có ý
kiến: “Không chấp thuận hỗ trợ đối với phần diện tích 262,6m² với mức hỗ trợ
thấp nhất là giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm theo Chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư của Dự án. Ủy ban nhân dân huyện B tiếp tục thực hiện theo
Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2024 phê duyệt kèm
Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 1675/PABT-HĐBT ngày 10 tháng
05 năm 2024 đối với bà Nguyễn Thị Thu T1.”
+ Đối với phần diện tích 372m² thuộc một phần thửa 104, tờ bản đồ số
118 theo tài liệu BĐĐC: là phần diện tích đất thuộc lộ giới đường giao thông
khu vực do Nhà nước quản lý Quyết định số 2813/QĐ-UBND ngày 26 tháng 6
năm 2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố D không đủ điều kiện bồi thường, hỗ
trợ.
+ Đối với phần diện tích 2,4m² là đất mương do hộ dân lấn chiếm sử dụng
năm 2019 nên không đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ theo Điểm d Khoản 2 Điều
11
Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2018.
Về bồi thường, hỗ trợ công trình kiến trúc: Phần công trình xây dựng, vật
kiến trúc theo Giấy phép xây dựng tạm số 359/GPXDT-UB-CT được Ủy ban
nhân dân huyện B cấp ngày 10 tháng 12 năm 2008 (cấp cho chủ cũ là DNTN
thương mại - vận tải T4), tại trang 2, mục những điều cần lưu ý của giấy phép có
nội dung cụ thể: “Thời gian sử dụng công trình: Đến khi có quyết định thu hồi
đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ đầu phải tự phá dỡ công trình khi
nhà nước thực hiện qui hoạch xây dựng, theo cam kết có UBND xã P xác nhận
ngày 06/11/2008)” do đó không đủ điều kiện bồi thường hỗ trợ và phần diện
tích còn lại xây dựng không phép năm 2008 (sau ngày 01/7/2004) do đó không
đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, Ban Chỉ huy dự án thành phần 2: Bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 có Thông báo số 11/TB-BCH.DATP2 kết
luận nội dung họp giải quyết khó khăn vướng mắc, tại mục 2 Thông báo nội
dung cụ thể:
“Theo Giấy phép xây dựng tạm số 359/GPXDT-UB-CT ngày 10 tháng 12
năm 2008 của Ủy ban nhân dân huyện B. Trong đó:
- Tại Mục 1 phần “những điều cần lưu ý”quy định:
“Thời gian sử dụng công trình: Đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, chủ đầu phải tự phá dỡ công trình khi nhà nước
thực hiện qui hoạch xây dựng, theo cam kết có UBND xã P xác nhận ngày
06/11/2008)”
- Tại Mục 6 phần “Chủ đầu tư phải thực hiện các nội dung sau đây” quy
định:
“6. Phải tự dỡ bỏ công trình khi nhà nước giải phóng mặt bằng để thực
hiện quy hoạch”.
-- 16 of 24 --
17
Đồng thời, không có cở sở để bồi thường, hỗ trợ về vật kiến trúc cho bà
Nguyễn Thị Thu T1 (cửa hàng xăng dầu T) khi thu hồi mặt bằng trong dự án đầu
tư xây dựng đường V Thành phố Hồ Chí Minh.”
5. Về ban hành quyết định cưỡng chế.
Căn cứ Khoản 1, 2, 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cưỡng
chế thực hiện quyết định thu hồi đất như sau:
“1. Nguyên tắc cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện
theo quy định tại khoản 1 Điều 70 của Luật này.
2. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được thực hiện khi có đủ
các điều kiện sau đây:
a) Người có đất thu hồi không chấp hành quyết định thu hồi đất sau khi
Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban M cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm
nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã vận động, thuyết phục;
b) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã được niêm
yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của
khu dân cư nơi có đất thu hồi;
c) Quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đã có hiệu lực
thi hành;
d) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế thực hiện
quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành.
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối không nhận quyết định cưỡng chế
hoặc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập
biên bản.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế
thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế.
4. Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất:
a) Trước khi tiến hành cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế;
b) Ban thực hiện cưỡng chế vận động, thuyết phục, đối thoại với người bị
cưỡng chế; nếu người bị cưỡng chế chấp hành thì B thực hiện cưỡng chế lập
biên bản ghi nhận sự chấp hành. Việc bàn giao đất được thực hiện chậm nhất
sau 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp người bị cưỡng chế không chấp hành quyết định cưỡng chế
thì Ban thực hiện cưỡng chế tổ chức thực hiện cưỡng chế;
c) Ban thực hiện cưỡng chế có quyền buộc người bị cưỡng chế và những
người có liên quan phải ra khỏi khu đất cưỡng chế, tự chuyển tài sản ra khỏi
khu đất cưỡng chế; nếu không thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế có trách
nhiệm di chuyển người bị cưỡng chế và người có liên quan cùng tài sản ra khỏi
khu đất cưỡng chế.
-- 17 of 24 --
18
Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận tài sản thì B thực hiện
cưỡng chế phải lập biên bản, tổ chức thực hiện bảo quản tài sản theo quy định
của pháp luật và thông báo cho người có tài sản nhận lại tài sản.
…”
Căn cứ Quyết định số 9745/QĐ-UBND ngày 16 tháng 10 năm 2023 của
Ủy ban nhân dân huyện B về thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Thu T1 sử dụng tại
xã P để thực hiện Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường
Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16 tháng 10 năm 2023 của
Ủy ban nhân dân huyện B về phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Thu T1 để thực hiện Dự án
thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành
phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2024 của
Ủy ban nhân dân huyện B về việc sửa đổi hành Quyết định số 9881/QĐ-UBND
ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện B;
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng phối
hợp với Ủy ban nhân dân xã P trao Quyết định thu hồi đất số 9745/QĐ-UBND
ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Ủy ban nhân dân huyện B cho bà Nguyễn Thị
Thu T1. Đồng thời, niêm yết quyết định thu hồi đất tại Ban N3, trụ sở Ủy ban
nhân dân xã P.
Ủy ban nhân dân xã P, Ủy ban M xã Phạm Văn H2, Ban Bồi thường, giải
phóng mặt bằng tổ chức tiếp xúc, vận động hộ dân chấp hành quyết định thu hồi
đất của Ủy ban nhân dân huyện B bàn giao mặt bằng vào các ngày 01 tháng 12
năm 2023, ngày 30 tháng 12 năm 2023, ngày 27 tháng 02 năm 2024, ngày 14
tháng 03 năm 2024 hộ dân không chấp hành bàn giao mặt bằng.
Ngày 15 tháng 3 năm 2024, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Thông
báo số 896/TB-UBND, trong đó thông báo cho bà Nguyễn Thị Thu T1 được
biết: Dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đường Vành đai 3
đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh là dự án trọng điểm, cấp bách của Thành phố,
thực hiện thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng để sử dụng vào mục đích
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt, Ủy ban nhân dân huyện B rất mong các hộ dân đồng thuận, chấp
hành chủ trương và bàn giao mặt bằng để Dự án tiếp tục triển khai thực hiện
phục vụ lợi ích cộng đồng, đảm bảo an sinh xã hội và đề nghị bà Nguyễn Thị
Thu T1 ký hồ sơ nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng bị ảnh
hưởng trong dự án. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu T1 vẫn không chấp hành bàn
giao mặt bằng.
Ngày 18 tháng 3 năm 2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành
Quyết định số 2083/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất (đối với bà
Nguyễn Thị Thu T1).
-- 18 of 24 --
19
Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định thu hồi đất
đối với bà Nguyễn Thị Thu T1 theo quy định. Do bà Nguyễn Thị Thu T1 không
chấp hành quyết định thu hồi đất để thực hiện Dự án, Ủy ban nhân dân xã P, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã P, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng
huyện B đã tổ chức vận động, thuyết phục bà Nguyễn Thị Thu T1 thực hiện bàn
giao mặt bằng để thực hiện Dự án theo quy định. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu
T1 không chấp hành nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành quyết
định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định.
Từ cơ sở nêu trên, Ủy ban nhân dân xã T kiến nghị Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công nhận các Quyết định số 9745/QĐ-UBND
ngày 16 tháng 10 năm 2023, Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16 tháng 10
năm 2023, Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 10 tháng 5 năm 2024 cua Ủy
ban nhân dân huyện B và Quyết định số 2083/QĐ-UBND ngày 18 tháng 3 năm
2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, bác toàn bộ các nội dung khởi
kiện của bà Nguyễn Thị Thu T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 (chi nhánh T3) có
ông Nguyễn Thanh L1 là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và
có văn bản trình bày ý kiến:
Ngân hàng N2 (chi nhánh T3) đã có Thông báo về việc giải chấp tài sản
số 979/TB-NHN0.TĐ-KH ngày 13/8/2025. Hiện nay, khách hàng đã trả hết nợ
vay tại tất cả các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Công ty TNHH H3 và
Ngân hàng N2 - chi nhánh T3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H3 do bà Nguyễn
Minh D1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH H3 vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Văn bản ý kiến
ngày 08/8/2025. Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của người khởi
kiện.
Tại Bản án hành chính số 698/2025/HC-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
“…1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T1.
Hủy Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của UBND huyện
B về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất của bà Nguyễn Thị Thu T1 để thực hiện Dự án thành phần 2: Bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí
Minh.
Hủy Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 10/5/2024 của UBND huyện B
về việc sửa đổi Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của UBND
huyện B.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Hồ Chí Minh có trách
nhiệm ban hành Quyết định bồi thường diện tích đất bị thu hồi cho bà Nguyễn
Thị Thu T1 trong Dự án thành phần 2: Đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố
-- 19 of 24 --
20
Hồ Chí Minh, diện tích 783,4 m2 theo giá đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài và
phần diện tích 262,9m2 theo giá đất sản xuất kinh doanh, sử dụng có thời hạn và
bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất bị thu hồi theo đúng quy định pháp luật như
đã phân tích tại phần nhận định trên của Bản án.
2. Đình chỉ yêu cầu hủy Quyết định số 9745/QĐ-UBND ngày 16/10/2023
về việc thu hồi đất để thực hiện dự án trên của Ủy ban nhân dân huyện B và
Quyết định 2083/QĐ-UBND ngày 18/3/2024 của Chủ tịch UBND huyện B về
cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Thu T1 để thực hiện Dự án thành
phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố
Hồ Chí Minh…”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và quyền
kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 20/10/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được
đơn kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T là người kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B và Ủy
ban nhân dân huyện B, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ
thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T1.
Ngày 10/10/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được
Quyết định số 74/QĐ-VKS-HC ngày 03/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh sửa một phần bản án hành chính sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T1 về việc
hủy các Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của UBND huyện B
về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất của bà Nguyễn Thị Thu T1 để thực hiện Dự án thành phần 2: Bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đường Vành đai 3 đoạn qua Thành phố Hồ Chí Minh;
Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 10/5/2024 của UBND huyện B về việc sửa
đổi Quyết định số 9881/QĐ-UBND ngày 16/10/2023 của UBND huyện B.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện có người đại diện theo ủy
quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo; Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí
Minh vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 74/QĐ-VKS-HC ngày
03/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện Công tố và
kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo
quy định của Luật Tố tụng hành chính, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
-- 20 of 24 --
21
Nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã T, Thành phố Hồ Chí Minh và chấp nhận kháng nghị của Viện
kiểm sát theo hướng sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
Trong trường hợp này, các nội dung khiếu kiện được cấp sơ thẩm giải
quyết và bị kháng cáo, kháng nghị gồm:
- Việc bồi thường đối với các diện tích đất 783,4m2 và 262,9m2 .
- Việc bồi thường, hỗ trợ đối với công trình, cấu trúc xây dựng trên đất.
Xét thấy:
[1] Việc bồi thường đối với diện tích đất 783,4m2:
Tòa án cấp sơ thẩm kết luận:“Căn cứ vào hồ sơ pháp lý về nguồn gốc sử
dụng đất, các căn cứ pháp luật viện dẫn trên thì phần đất diện tích 783,4m2 của
bà T1 có nguồn gốc là đất ở (sử dụng ổn định lâu dài) phải được bồi thường về
đất theo giá đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài theo quy định tại khoản 4 Điều 7
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; khoản 3 Điều 127 Luật Đất đai 2013”.
Cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 7
Nghị định số
47/2014/NĐ-CP của Chính phủ để kết luận phần diện tích đất 783,4m2 của bà T1
bị thu hồi thuộc trường hợp được bồi thường theo giá đất ở.
Theo các tài liệu tại hồ sơ thể hiện: diện tích đất 783,4m2 nêu trên có
nguồn gốc là đất ở, sử dụng lâu dài, cụ thể: Diện tích 399m2 thuộc thửa đất số
203, tờ bản đồ số 03 chủ sử dụng là bà Hoàng Thị H1, đã được cấp giấy chứng
nhận vào năm 2001. Diện tích đất 183,4m2 thuộc thửa 205 tờ bản đồ số 03 chủ
sử dụng là bà Trần Thị Kim P đã được cấp giấy chứng nhận vào năm 2002. Diện
tích 201m2 thuộc thửa số 523 tờ bản đồ số 07 chủ sử dụng là ông Đào Trung V2
đã được cấp giấy chứng nhận vào năm 2002. Đền năm 2002, 2003 những người
này chuyễn nhượng cho bà Nguyễn Thị Lan A (Chủ Doanh nghiệp tư nhân T4).
Năm 2007, Doanh nghiệp tư nhân T4 lập hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất
để xây dựng Trạm bán lẻ xăng dầu. Ngày 18/6/2008, Sở T6 cấp giấy chứng nhận
QSD đất đối với 1.046,3m2 đất, trong đó diện tích đất 783,4m2 sang đất cơ sở sản
xuất kinh doanh; thời hạn sử dụng đất là 50 năm.
Năm 2015 , Doanh nghiệp tư nhân T4 chuyển nhượng cho Cty TNHH
MTV Nhiên liệu S và đã được cập nhật biến động ngày 27/11/2015. Năm 2019,
Công ty TNHH H3 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho bà Nguyễn Thị Thu
T1. Quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng, mục đích và thời hạn không thay
-- 21 of 24 --
22
đổi. Quá trình chuyển nhượng bà T1 không thắc mắc, khiếu nại gì về mục đích
và thời hạn sử dụng đất.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật đất đai năm 2013, Ủy ban nhân
dân huyện B xác định loại đất là sản xuất kinh doanh, sử dụng có thời hạn được
ghi trong Giấy chứng nhận QSD đất để tính khoản bồi thường là đúng quy định
của khoản 1 Điều 80 Luật Đất đai 2013, khoản 1
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều
7
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP là không chính xác, vì quy định tại khoản 4 nêu
trên là áp dụng đối với trường hợp đất có thời hạn ổn định, lâu dài. Diện tích đất
783,4m2 của bà T1 bị thu hồi không thuộc trường hợp được sử dụng ổn định lâu
dài sau khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 127
Luật Đất đai 2013, bởi lẽ quy định này là áp dụng trong trường hợp “chuyển
mục đích sử dụng từ đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài sang đất phi
nông nghiệp sử dụng có thời hạn”, trong khi diện tích đất của bà T1 là chuyển
từ đất ở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm viện dẫn và cho rằng đất bà T1 thuộc trường
hợp sử dụng ổn định, lâu dài là không đúng.
Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh về nội dung này là có căn cứ.
[2] Việc bồi thường đối với diện tích đất 262,9m2:
Diện tích đất này trước đây là đất nông nghiệp, giao đất có thu tiền sử
dụng đất. Phần đất này nằm trong tổng diện tích 1.046,3m2 mà Doanh nghiệp T4
xin chuyển mục đích sử dụng đất. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 80 Luật Đất
đai 2013, điểm a khoản 1 Điều 7
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ,
UBND huyện B tính khoản tiền bồi thường theo giá đất sản xuất kinh doanh của
thời gian sử dụng đất còn lại là đúng. Tòa án cấp sơ thẩm cũng xác định diện
tích đất này là đất sản xuất, kinh doanh nhưng cho rằng bà T1 phải được bồi
thường bằng 80% giá đất ở liền kề là không có căn cứ.
[3] Về việc bồi thường, hỗ trợ đối với công trình, cấu trúc trên đất:
Theo bản vẽ hiện trạng nhà do Công ty TNHH T5 lập ngày 30/12/2022,
được bà T1 ký xác nhận thì các công trình, cấu trúc trên đất gồm: Nhà điều hành
trạm xăng, mái che trạm xăng, hồ nước, bồn ngầm....
Các công trình nêu trên được xây dựng theo Giấy phép xây dựng tạm số
359/GPXD-UB-CT ngày 10/12/2008, cấp cho Doanh nghiệp tư nhân T4. Bà T1
yêu cầu được hỗ trợ về công trình, cấu trúc xây dựng trên đất bị thu hồi.
Theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt tại Quyết
định số 9881/QĐ-UBND ngày 16/10/2023, được sửa đổi tại Quyết định
3855/QĐ-UBND ngày 10/4/2024, thì bà T1 không được bồi thường.
Đối với nội dung này, để có căn cứ giải quyết yêu cầu của bà T1 thì cần
phải căn cứ và áp dụng các quy định tại Điều 88, Điều 89 Luật Đất đai 2013 và
các quy định tại
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, khi các
công trình, cấu trúc trên đất bị thu hồi là công trình hợp pháp trên đất đã được
-- 22 of 24 --
23
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công trình xây dựng phù hợp với mục
đích sử dụng đất theo Quyết định giao đất số 2813/QĐ-0UBND ngày 26/6/2007
của UBND Thành phố H (để xây dựng trạm bán lẻ xăng dầu).
Mặt khác, các công trình, cấu trúc trên đất bị thu hồi được xây dựng theo
Giấy phép xây dựng tạm, cấp ngày 10/12/2008 cho cho Doanh nghiệp tư nhân
T4; nội dung của giấy phép chỉ xác định thời hạn sử dụng công trình cho đến khi
Nhà nước thu hồi đất; khi có quyết định thu hồi đất, chủ đầu tư phải tự tháo
dỡ...Tuy nhiên, Giấy phép xây dựng tạm này cũng không quy định chủ đầu tư
không được bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất khi nhà nước thu hồi đất.
Đơn kháng cáo của phía bị kiện và Kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào giấy phép xây dựng tạm
để cho rằng bà T1 không được hỗ trợ đối với công trình, cấu trúc trên đất bị thu
hồi là không đúng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nội dung khởi kiện này là có
căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 88, Điều 89 Luật Đất đai năm 2013.
Tuy nhiên, theo Giấy xác nhận pháp lý, nguồn gốc đất, thời điểm tạo lập
và sửa chữa nhà, vật kiến trúc số 1893/GXN-UBND ngày 24/03/2023 của
UBND xã P thì công trình, cấu trúc trên đất bị thu hồi xây dựng năm 2008. Do
đó, để có cơ sở tính toán mức bồi thường, hỗ trợ cụ thể theo các quy định tại