CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Điều 228. Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị B và anh
N. [2] Về quan hệ hôn nhân, chị B và anh N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là UBND xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2016 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. [3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, chị B cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không hòa hợp nhau, anh N không chăm lo cho gia đình, thường xảy ra cự cãi, không thể hàn gắn được, vợ chồng đã ly thân nhau hơn 04 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống 3 chung nên chị xin ly hôn với anh N. Còn anh N cũng đồng ý ly hôn với chị B để mỗi người có cuộc sống riêng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh N không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân nhau một thời gian dài nhưng không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B với anh N. [4] Về con chung: Chị B và anh N có 01 người con chung là Nguyễn Gia B1, sinh ngày 27/9/2016, hiện chị B đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy, chị B đủ điều kiện để nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để chị B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con. Anh N có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị B vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét. [5] Về nợ chung: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. [6] Về tài sản chung: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. [7] Về án phí, nguyên đơn chị B phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 207, khoản 1
2
Về con chung: Chị và anh N có 01 người con chung là Nguyễn Gia B1,
sinh ngày 27/9/2016, chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục
nuôi con, không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
Về nợ chung và tài sản chung: Chị xác định không có, không yêu cầu
Tòa án xem xét, giải quyết.
* Trong quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh
thống nhất với lời trình bày của chị B về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản
chung, nợ chung. Nay chị B khởi kiện xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn với chị
B. Các nội dung khác anh cũng thống nhất với yêu cầu của chị B.
Do không có điều kiện đến Tòa án nên anh xin được vắng mặt trong
suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang có ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị B được ly hôn với anh
N; giao con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung,
nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị
Nguyễn Thị Bé B và bị đơn anh Nguyễn Văn N đều có đơn yêu cầu giải quyết
vắng mặt, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 227 và khoản 1
Điều 227. , khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 4
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé B được ly hôn với anh
Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Gia B1, sinh ngày
27/9/2016 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị B vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
3. Về nợ chung: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem
xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: Anh chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án
xem xét, giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị B chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0000088 ngày 05/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 7; - Phòng THADS khu vực 7; - UBND xã T, tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - Lưu. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Bảnh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.