CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ, ngày 20 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Sau khi cưới, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do vợ chồng có quá nhiều bất
2
đồng, thường xuyên xảy ra tranh cải, chị không chịu đựng được nên bỏ đi nơi
khác sống và vợ chồng ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Trong thời gian ly thân
chị và chồng không có gặp mặt, không có liên lạc nên vợ chồng không trao đổi
cũng như không thể hàn gắn với nhau được. Nay, sau thời gian dài ly thân chị xét
thấy không thể hàn gắn nên xin được ly hôn, để trả cho cả hai sự tự do, không
ràng buột gì với nhau về sau.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là
Nguyễn Thị Bích D – sinh ngày 26/01/2019 và Nguyễn Thị Lan A – sinh ngày
05/3/2023, con chung hiện tại do chị và mẹ ruột chị chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân, chị Danh Thị Bích H yêu cầu được ly
hôn với anh Nguyễn Văn T; Về con chung, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi hai
con chung là Nguyễn Thị Bích D – sinh ngày 26/01/2019 và Nguyễn Thị Lan A –
sinh ngày 05/3/2023, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng cho anh T
quyền thăm nom; Về tài sản chung, nợ chung: chị H xác định vợ chồng không có
tài sản chung và cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Đối với bị đơn Anh Nguyễn Văn T không có mặt tại phiên tòa: Quá trình
giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy
định của pháp luật cho anh T nhưng chị không có mặt cũng không cung cấp bản
tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào
của anh T.
Tại biên bản ghi lời khai của người làm chứng ngày 28/11/2025 Người làm
chứng bà Nguyễn Thị Bích P trình bày:
Về quan hệ tôi là mẹ ruột của Danh Thị Bích H, trước đây cháu H có quen
biết, tìm hiểu tình cảm chung sống với anh Nguyễn Văn T như vợ chồng, đến
ngày 31/01/2020 được UBND Thị trấn G cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10, sau
khi kết hôn Nguyễn Văn T về ở bên vợ tại tổ E, ấp P, xã G.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.