CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 04 tháng 02 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ sau khi cưới được hơn 5 năm, nguyên nhân
mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau trong làm ăn phát triển
kinh tế gia đình, anh B thường xuyên rượu chè, chửi bới đánh đạp vợ con, không
lo làm ăn kinh tế. Mặc dù hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả,
chị và anh B đã sống ly thân với nhau từ tháng 01/2026 đến nay, không còn
quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm
trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn B.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh B có 02 con chung là cháu
Hoàng Huyền T2, sinh ngày 07/3/2018 và cháu Hoàng Huyền N, sinh ngày
11/10/2021, hiện 02 cháu đang sống cùng chị T, Ly hôn, chị có nguyện vọng để
được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Nợ chung của vợ chồng: Không có
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2026, bị đơn là anh Hoàng Văn B trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau năm 2016, trước khi kết hôn, anh và
Chị T3 được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L
(nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh). Sau ngày cưới, Chị T về chung sống với anh ngay
tại thôn N, xã B. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2024, nguyên nhân mâu thuẫn do
anh hay uống rượu về nhà hay gây gổ, bạo lực gia đình dẫn đến Chị T phải về
ngoại sống ly thân anh từ tháng 01/2026 đến nay.
Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, còn tình cảm với
chị T nên anh không nhất trí ly hôn với chị T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị T có 02 con chung là cháu
Hoàng Huyền T2, sinh ngày 07/3/2018 và cháu Hoàng Huyền N, sinh ngày
11/10/2021, hiện 02 cháu đang sống cùng chị T, Ly hôn, anh có nguyện vọng để
được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Huyền
T2.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh B không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.