Điều 50. , xử phạt bị cáo Đoàn Minh Q mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về
tội “Trộm cắp tài sản”.
-- 6 of 13 --
7
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Minh Q mức
án từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất
ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đoàn
Minh Q phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 02 năm 09 tháng đến 03
năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giam 03/12/2025.
Về xử lý vật chứng: Quản lý của Đoàn Minh Q: 01 xe máy nhãn hiệu Suzuki
Viva, màu sơn xanh, biển số 17H4-6706 có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có
nhiều vị trí bị nứt vỡ không rõ hình, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp
của bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1975, trú tại Thôn T, xã N, tỉnh Hưng yên (mẹ đẻ
bị cáo Q), bà V có đơn xin lại chiếc xe trên nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà
V; Tịch thu tiêu hủy 01 áo kẻ vuông màu đen, trắng dài tay có mũ, phía trước áo
may kéo khóa màu đen; 01 đôi giày vải màu đen có dây buộc, bề mặt giầy in chữ
“NIKE” (đều đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo, do bị cáo không có yêu cầu
nhận lại.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là chị Nguyễn Thị Thùy D1, anh Phạm
Đình T1, chị Phạm Thị Phong L, anh Lê Đức H, chị Phạm Thị Q1, chị Vũ Thị T,
chị Nguyễn Thị Trà M không yêu cầu bị cáo Đoàn Minh Q phải bồi thường giá
trị những chiếc cầu xe bị mất nên không đặt ra giải quyết.
Về vấn đề khác: Chị Đặng Thị H1 sinh năm 1974, nơi thường trú thôn D,
xã X, tỉnh Ninh Bình, nơi ở hiện tại số nhà A L, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên
và chị Trần Thị K sinh năm 1984, cư trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng
Yên khi mua những chiếc cầu xe của Q được Q cho biết đều là tài sản của Q không
dùng nữa, các chị đều không biết các cầu xe này là tài sản do Q trộm cắp mà có
nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý chị H1 và chị K.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng
đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-- 7 of 13 --
8
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên; Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại
về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do
đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Trong các ngày 23
và 24/11/2025, bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của 07 hộ gia
đình tại khu đô thị E, tổ dân phố P, phường V, tỉnh Hưng Yên. Cụ thể: Lần 1: Q
trộm cắp 03 cầu xe của gia đình chị Phạm Thị Q1, gia đình chị Phạm Thị Phong
L và gia đình chị Nguyễn Thị Trà M, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 782.000đồng.
Lần 2: Q trộm cắp 02 cầu xe của gia đình chị Vũ Thị T, gia đình anh Lê Đức H
và gia đình anh Phạm Đình T1, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.938.000 đồng.
Lần 3: Q trộm cắp cầu xe của gia đình chị Phạm Thị Thùy D, giá trị tài sản trộm
cắp là 510.000 đồng. Tổng trị giá tài sản của cả ba lần là 3.230.000 đồng. Ngoài
ra, bị cáo đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của
Luật phòng chống ma túy, nhưng bị cáo vẫn sử dụng ma túy loại heroin, lần gần
nhất là ngày 25/11/2025 và theo kết luận giám định nước tiểu thu của Đoàn Minh
Q ngày 26/11/2025 có tìm thấy các chất gồm M1 và C. Lời khai của bị cáo phù
hợp với đơn trình báo, lời khai của những người bị hại là: Chị Phạm Thị Thùy D
sinh năm 1989, ở số A- A9LK2; anh Phạm Đình T1 sinh năm 1984, trú tại số nhà
B, LK2; chị Phạm Thị Phong L sinh năm 1994, trú tại số nhà D, A2LK1; anh Lê
Đức H sinh năm 1987, trú tại số nhà E, A1LK01; chị Vũ Thị T sinh năm 1995,
trú tại số nhà F, A1LK1; chị Phạm Thị Q1 sinh năm 1993, địa chỉ số nhà E,
A7LK01; chị Nguyễn Thị Trà M sinh năm 2006 cùng khu đô thị E, tổ dân phố P,
phường V, tỉnh Hưng Yên; Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm ngày
26/11/2025 tại trụ sở Công an phường V, tỉnh Hưng Yên; Biên bản xác định hiện
trường; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường do Công an phường V, tỉnh Hưng
Yên lập ngày 02/12/2025 tại đường D, khu đô thị E, tổ dân phố P, phường V, tỉnh
Hưng Yên; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản niêm
phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường V, tỉnh Hưng Yên lập ngày
27/11/2025 tại trụ sở Công an phường V, tỉnh Hưng Yên: 01 USB màu trắng nhãn
hiệu DTSE9 16GB do chị Nguyễn Thị Thùy D1 giao nộp; Biên bản giao nhận tài
-- 8 of 13 --
9
liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do
Công an phường V, tỉnh Hưng Yên lập ngày 27/11/2025 tại trụ sở Công an phường
V, tỉnh Hưng Yên: 01 USB màu trắng nhãn hiệu DTSE9 16GB do chị Trần Thị K
giao nộp; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử do Công an phường
V, tỉnh Hưng Yên lập ngày 26/11/2025 tại trụ sở Công an phường V, tỉnh Hưng
Yên; Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2025 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường V, tỉnh Hưng Yên; Kết luận giám
định số 1839/KL-KTHS ngày 08/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H; Kết luận
giám định số 2138/KL-KTHS ngày 05/01/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh H;
Kết luận giám định số 2139/KL-KTHS ngày 05/01/2026 của Phòng K1 Công an
tỉnh H; Biên bản lấy mẫu nước tiểu; Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm
giữ ngày 26/11/2025 tại trụ sở Công an phường V, tỉnh Hưng Yên; Kết luận giám
định số 2088/KL-KTHS ngày 02/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
Có tìm thấy các chất gồm M1 và Codeine trong 01 (một) mẫu nước tiểu thu giữ
của Đoàn Minh Q, sinh năm 1998, đăng ký thường trú tại thôn T, xã N, tỉnh Hưng
Yên; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc số 22/QĐ-TA ngày 02/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình;
Giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
số 134/CN-CSCN ngày 08/11/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh
Thái Bình; Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 115a/QĐ-
UBND ngày 10/11/2024 của UBND xã T (nay là UBND xã N) đối với Đoàn Minh
Q, thời hạn 02 năm từ 10/11/2024 đến 10/11/2026; Biên bản làm việc ngày
04/12/2025 tại trụ sở Công an xã N, tỉnh Hưng Yên về việc quản lý sau cai nghiện
đối với Đoàn Minh Q: Đoàn Minh Q thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện ma
túy tại nơi cư trú của UBND xã T, huyện Đ, sau khi sát nhập xã thì Q thuộc đối
tượng quản lý sau cai nghiện của Công an xã N, tỉnh Hưng Yên theo Quyết định
quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 115a/QĐ-UBND ngày 10/11/2024
của UBND xã T (nay là UBND xã N) đối với Đoàn Minh Q, thời hạn 02 năm từ
10/11/2024 đến 10/11/2026; Lời khai của anh Hoàng Văn V1 sinh năm 1981, trú
tại tổ dân phố P, phường V, tỉnh Hưng Yên và anh Trịnh Xuân L1 sinh năm 1981,
trú tại tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hưng Yên là cơ sở thiết kế, chế tạo cầu xe
bán cho các hộ dân; Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng
Thị H1 sinh năm 1974, nơi thường trú Thôn D, xã X, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện
tại Số nhà A L, tổ A, phường T, tỉnh Hưng Yên; chị Trần Thị K sinh năm 1984,
cư trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng Yên; bà Nguyễn Thị V sinh năm
-- 9 of 13 --
10
1975, cư trú tại thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên và phù hợp các tài liệu khác có trong
hồ sơ vụ án.
[3] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo
Đoàn Minh Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng trái phép chất
ma túy”.