Mục lục - 3 điều ▼
Điều 195. ; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015;
+ Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208;
Điều 209. ; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm
phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và
thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; Điều 226 và chương II
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại
Điều 676. Bộ luật dân sự 2005, xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ L gồm: Bà
Nguyễn Lan N và ông Nguyễn Nhật Á.
-- 4 of 10 --
5
- Về nguồn gốc nhà đất: Thửa đất số 62, tờ bản đồ số 16 địa chỉ số A B, tổ
B, cụm E, phường N, quận B (Nay là số 3 ngách 173/63/17 đường H, phường N,
thành phố Hà Nội), được tạo lập sau khi cụ Nguyễn Song N1 chết, đến ngày
28/02/2000, cụ L được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng
đất số 10101210071 do UBND thành phố H cấp ngày 28/02/2000 đứng tên cụ
Nguyễn Đức L, diện tích đất 108,87m2. Do đó xác định đây là tài sản riêng của cụ
L.
Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
- Về giá trị quyền sử dụng đất là: 160.000.000 đồng/m2 x 108,87m2 =
17.419.200.000 đồng; Về giá trị xây dựng là: 545.772.864 đồng; Tổng giá trị tài
sản: 17.964.972.864 đồng.
Do cụ L chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ sẽ được chia
theo pháp luật. Xác định di sản thừa kế của cụ L để lại là nhà đất tại số C ngách E
đường H, phường N, thành phố Hà Nội, diện tích 108,87m2. Hàng thừa kế thứ nhất
gồm có: bà Nguyễn Lan N và ông Nguyễn Nhật Á mỗi người được hưởng một kỷ
phần của cụ L. Chia thừa kế trị giá bằng hiện vật là: 108,87m2 : 2 = 54,435 m2 ;
Chia thừa kế trị giá bằng tiền như sau: Ông Á, bà N mỗi người được hưởng
di sản thừa kế là 1 kỷ phần tương đương với số tiền là: 17.964.972.864 đồng : 2 =
8.982.486.432 đồng.
Căn cứ Điều 5 của UBND thành phố H ban hành về quy định về hạn mức
giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối
thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội
quy định:
“Các thửa đất được hình thành từ việc tách thửa phải đảm bảo đủ các điều
kiện sau:
a) Có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng (đường giới
hạn cho phép xây dựng công trình trên thửa đất) từ 3 mét trở lên;
b) Có diện tích không nhỏ hơn 30 m2 đối với khu vực các phường, thị trấn và
không nhỏ hơn 50% hạn mới giao đất ở (mức tối thiểu) quy định tại Điều 3 Quy
định này đối với các xã còn lại.
2. Khi chia tách thửa đất có hình thành ngõ đi sử dụng riêng thì ngõ đi phải
có mặt cắt ngang từ 2m trở lên đối với thửa đất thuộc khu vực các xã và từ 1m trở
lên đối với thửa đất thuộc khu vực các phường, thị trấn và các xã giáp ranh. Thửa
đất sau khi chia tách phải đảm bảo đủ điều kiện tại khoản 1 Điều này”.
Hội đồng xét xử nhận thấy diện tích nhà đất của bà N, ông Á được hưởng
thừa kế không đủ để tách thửa. Ông Á có nguyện vọng được hưởng di sản thừa kế
bằng hiện vật vì ông Á là con trai duy nhất của cụ L. Bà N đang là người quản lý
nhà đất nêu trên nhưng bà N không có nguyện vọng được nhận thừa kế bằng hiện
-- 5 of 10 --
6
vật và cũng không đề nghị tính công sức giữ gìn nhà đất của cụ L để lại. Vì vậy,
ông Nguyễn Nhật Á được quyền sở hữu, sử dụng nhà đất tại số C ngách A đường
H, phường N, thành phố Hà Nội là phù hợp với nguyện vọng của ông Á, bà N. Ông
Nguyễn Nhật Á có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho đồng thừa kế bà Nguyễn
Lan N số tiền: 8.982.486.432 đồng;
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tranh chấp
nguyên đơn tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Nguyễn Nhật Á phải chịu
án phí đối với tài sản mà mình được phân chia theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Lan N được miễn án phí dân sự sơ thẩm do bà N là người trên
60 tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng
giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
- Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp
luật;
- Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1