CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
2
+ Bà Bùi Thị N, sinh năm: 1963. Vắng mặt.
+ Ông Vũ Văn H1, sinh năm: 1963. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
+ Ông Nguyễn Đức M1, sinh năm: 1968. Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Diễm M2, sinh năm: 1993. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng:
4.1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1963. Có mặt.
4.2. Bà Đặng Thị T1, sinh năm 1976. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ A G, phường L, tỉnh Thái Nguyên.
5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Năm 2019 bà C mua 01 thửa đất số AD 798530, diện tích 744m2 đất
chuyên trồng lúa nước, thửa số 196, tờ bản đồ số 8, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên ông Bùi Duy M và bà Dương Thị H, vị trí đất thuộc phường
H (nay là Phan Đình P), tỉnh Thái Nguyên của vợ chồng bà Bùi Thị N và ông
Vũ Văn H1, số tiền giao dịch là 1 tỷ đồng xuất phát từ việc vay nợ giữa bà và vợ
chồng N, bà có cho vợ chồng N, H1 vay số tiền 1.038.000.000 đồng, ông bà H1,
N mới trả cho bà được 38.000.000 đồng, số tiền 1 tỷ còn lại thoả thuận chuyển
sang thành tiền mua bán chuyển nhượng thửa đất 196, tờ bản đồ số 8 diện tích
744m2. Do bà C không có hộ khẩu tại nông thôn, thời điểm năm 2019 do Luật
Đất đai quy định người không có hộ khẩu nông thôn thì không được nhận
chuyển nhượng mua bán đất nông nghiệp, nên bà có nhờ chị Đặng Thị Đ là em
gái ruột của bà, có khẩu nông nghiệp đứng tên hộ bà C trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Chị Đ đồng ý đứng tên hộ nên ngày 11/5/2021 bà C cùng
chị Đ ra Văn phòng công chứng Dương Thị Kim C1 cùng bà N và ông M, bà H,
các con của ông M là bà H3, bà T2 ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đối với diện tích 744m2 đất chuyên trồng lúa nước, thửa số 196, tờ bản đồ số
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.