Điều 134. Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng
gây nguy hại cho nhiều người;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng,
chữa bệnh cho mình;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm:
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các
trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Bản cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện
Biên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo Lầu A
K là người lười lao động, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã sử
dụng chất ma tuý, ý thức chấp hành pháp luật kém. Việc sử dụng ma tuý đã làm mất
khả năng kiềm chế hành vi, khiến bị cáo rơi vào trạng thái kích động, hung hãn, dẫn
đến việc sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông L N C và bà H T D.
Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe
của người khác được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng
lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Xét về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, bị cáo Lầu A K sinh ra trong gia đình nông dân, được cha mẹ nuôi dưỡng,
học hết lớp 5/12, đến tuổi trưởng thành lập gia đình và sinh sống tại địa phương. Bị
cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ của người con
đối với cha mẹ. Nguyên nhân xuất phát từ việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy,
dẫn đến tình trạng rối loạn tâm thần và hành vi do các chất gây ảo giác, kèm theo
hội chứng nghiện, làm giảm khả năng kiểm soát bản thân. Do đó, bị cáo đã có hành
vi gây thương tích cho cha mẹ của bị cáo, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Hành
vi của bị cáo không chỉ xâm hại đến quan hệ gia đình mà còn vi phạm pháp luật hình
-- 8 of 11 --
9
sự, khiến bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Mặc dù bị cáo có thể nhận
thức được sai phạm và thể hiện sự ân hận, nhưng hậu quả đã xảy ra, cần thiết phải
xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo chỉ khai báo có hành vi đánh bị hại, không
khai rõ cụ thể diễn biến hành vi đánh bị hại, nên bị cáo không được hưởng tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luạt hình sự. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo, bị cáo là cha của 04 đứa con chưa thành niên. Đây là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS khi quyết định
hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự
Như vậy đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp cần được xem xét chấp nhận. Người
bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự là chưa có đủ cơ sở, vì sau khi phạm tội bị cáo chưa có tình tiết nào đủ điều kiện áp
dụng từ điểm a đến điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Những đề nghị khác của
người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội
đồng xét xử cần xem xét toàn diện nhân thân bị cáo, ý thức chấp hành pháp luật trong
cuộc sống, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, hậu quả thương
tích gây ra cho bị hại cũng như thái độ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Trên cơ sở đó,
xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo
dục bị cáo trở thành C dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Trách nhiệm dân sự: Bị hại ông L N C và bà H T D đều khai bị, bị cáo
đánh gây thương tích, nhưng các bị hại đều không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu xanh đã cũ, đã qua sử dụng có bám dính
chất dịch màu nâu đỏ; Các mẫu chất dịch màu nâu đỏ thu tại vị trí số 1, 2, 5, 7, 10 khi
khám nghiệm hiện trường là những vật liên quan đến việc phạm tội không còn giá trị
sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc cuốc cán bằng gỗ dài 90 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại dài 22cm,
rộng 14cm, lưỡi cuốc bám dính chất dịch màu nâu đỏ là tài sản của ông C bà D, tại
phiên tòa ông C, bà D từ chối không nhận lại chiếc Cuốc là vật liên quan đến việc
phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 con dao quắm, 01 đôi dép tông màu vàng và 01 cái liềm là những
vật không liên quan đến việc phạm tôi. Quá trình điều tra ngày 09/02/2026, Cơ quan
điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông C và bà D là phù hợp.
Ngay sau khi bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của bị
cáo gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số: 766/KL-KTHS ngày 05/8/2025
-- 9 of 11 --
10
của Phòng Kỹ thuật Hình sự C an tỉnh Điện Biên kết luận: Trong mẫu nước tiểu của
bị cáo gửi giám định có chứa chất ma túy: Loại Methamphetamine. Nhưng bị cáo
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi,
bổ sung năm 2025 nên hành vi của bị cáo không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất
ma tuý theo quy định tại Điều 256a BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Ngày
10/02/2026, C an xã N N, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
hình thức Cảnh cáo đối với bị cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là phù
hợp.
Bị cáo có hành vi dùng tay cầm vào cổ áo nhấc cháu Lầu Chá C lên rồi hạ
xuống định đánh cháu C, nhưng chưa gây ra thương tích cho cháu C, chị G T N (mẹ
cháu C) không yêu cầu xử lý đối với bị cáo, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại nơi có điều kiện
kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo, do đó cần miễn toàn bộ án phí
HSST cho bị cáo là phù hợp.
[7] Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an tỉnh
Điện Biên và Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên, Điều tra viên, Kiểm sát
viên, từ khi khởi tố vụ án, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình
thức, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người bào chữa không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hình sự.
[8] Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự; Điều 38; khoản 2