Mục lục - 3 điều ▼
Điều 147. , Điều 217, 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều
109, 128, 137, 146, khoản 2 Điều 305 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-- 3 of 13 --
4
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T2 đối với ông
Nguyễn Văn T4, bà Thành Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T, ông Thành Công L,
ông Thành Công N, bà Thành Thị Thanh T1 đối với ông Nguyễn Văn T4, bà
Thành Thị H về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất" đối
với diện tích đất đo đạc thực tế là 593,3m2 thuộc một phần các thửa 1964 (21,9m2,
loại đất ONT), thửa 1963 (303,4m2, loại đất HNK), thửa 1961 (268m2, loại đất
CLN) tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp A, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, nay thuộc
ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thành Công
D với ông Nguyễn Văn T4, bà Thành Thị H thể hiện là “Giấy mua bán đất” ngày
15-3-2010.
- Buộc ông Nguyễn Văn T4 và bà Thành Thị H phải trả cho bà Võ Thị T, ông
Thành Công L, ông Thành Công N, bà Thành Thị Thanh T1 tổng cộng
208.351.367 đồng (hai trăm lẻ tám triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm sáu
mươi bảy đồng) gồm tiền chuyển nhượng đất 60.000.00 đồng và bồi thường thiệt
hại 148.351.367 đồng.
- Buộc bà Võ Thị T trả cho bà Thành Thị H 02 bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất AN 165983 số vào sổ H 03580, AN 165986 số vào sổ H 03583
do UBND huyện Đ cấp cùng ngày 21-11-2008 cho bà Thành Thị H.
3. Về chi phí tố tụng:
- Bà Võ Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, bà Thành Thị Thanh
T1 phải chịu 14.688.000 đồng. Bà Võ Thị T chịu 1.000.000 đồng chi phí xác minh,
thu thập chứng cứ. Toàn bộ số tiền này bà T đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
- Ông Nguyễn Văn T4 và bà Thành Thị H phải chịu 14.688.000 đồng. Bà T đã
nộp tạm ứng và chi phí xong nên buộc ông T4 và bà H phải trả lại cho bà T
14.688.000 đồng.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng,
người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại
Điều 305. Bộ luật Dân sự năm 2005.
-- 4 of 13 --
5
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo của các
đương sự theo luật định. Quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quy
định của pháp luật.
Ngày 03/10/2025, nguyên đơn bà Võ Thị T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm.
Tại phiên Tòa phúc thẩm,
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà T (có kháng cáo) và đồng thời
là người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn còn lại là ông L, ông N, bà T1
trình bày: Ông D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông T4, bà H đúng
quy định pháp luật, ngay tình, hợp đồng theo giấy bán đất ngày 15/3/2010 không vi
phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Ông D đã trả đủ tiền cho ông T4, bà H.
Ông T4, bà H tự nguyện và minh mẫn khi chuyển nhượng đất cho ông D. Sau khi
ký giấy tay, phía bên bà H, ông T4 không hỗ trợ để nguyên đơn thực hiện việc
sang tên đối với phần đất chuyển nhượng. Dẫn đến vụ việc kéo dài từ năm 2010
đến năm 2021 làm cho không đủ điều kiện tách thửa, bà T không thực hiện được
quyền đăng ký sang tên cho bà T. Đồng thời, bà T, ông D có thời gian canh tác trên
diện tích đất nhận chuyển nhượng từ ông T4, bà H, chỉ không canh tác được từ khi
ông D chết đến nay vì phát sinh tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều
117, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015, án lệ số 55/2022/AL
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để chấp nhận kháng cáo của bà
T, cải sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Mặt khác quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên
đơn có đề nghị triệu tập người làm chứng là những người chứng kiến việc mua bán
đất gồm ông Hồ Văn L2, ông Huỳnh Văn Q theo giấy bán đất ngày 15/3/2010.
Đồng thời, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu triệu tập ông Trương Văn
T5 là người bán đất sang lấp phần đất mua từ ông T4 và bà H khoảng 70 xe đất với
giá là 500.000 đồng/01xe thành tiền là 35.000.000 đồng (trước đây phần đất mua
trũng thấp). Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nếu có căn cứ thì
hủy bản án sơ thẩm vì không triệu tập người làm chứng ảnh hưởng đến quyền lợi
của nguyên đơn.
- Bị đơn bà Thành Thị H trình bày: Bà thừa nhận bà và ông T4 có bán đất cho
ông D theo giấy bán đất ngày 15/3/2010. Sau khi ký giấy, bà đã đưa bà T 02 bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc mua bán không có đo đạc thực tế.
Hiện tại, bà và ông T4 vẫn đang quản lý sử dụng phần đất đang tranh chấp bà để
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T và giữ nguyên bản án
sơ thẩm. Bà thừa nhận nguyên đơn có đổ đất nhưng chỉ đổ khoảng 55 xe đất, thống
-- 5 of 13 --
6
nhất giá như đại diện nguyên đơn trình bày và không đồng ý trả lại giá trị
35.000.000 đồng như yêu cầu của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm.
- Bà Thành Thị L1 trình bày: Trong vụ án này, bà không có liên quan gì,
không có ý kiến gì nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của
pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của những
người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm kể từ khi thụ lý vụ án cho
đến trước thời điểm nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng
cáo của nguyên đơn bà Võ Thị T đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Thấy rằng: Bà Võ Thị T
kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm để thu thập thêm lời khai người làm chứng và
áp dụng Án lệ số 55/2022/AL nhằm công nhận "Giấy mua bán đất" ngày
15/3/2010. Tuy nhiên, kết quả xác minh cho thấy đất tranh chấp hiện do bị đơn
quản lý và diện tích đo đạc thực tế không đủ điều kiện tách thửa theo Luật Đất đai
năm 2024, khiến giao dịch bị vô hiệu do vi phạm điều cấm. Tòa án cấp sơ thẩm đã
giải quyết đúng quy định khi đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đã chết (bà T2) do
người thừa kế từ chối tham gia, đồng thời buộc phía bị đơn trả lại 60 triệu đồng
tiền gốc và bồi thường 148.351.367 đồng (tương đương 50% thiệt hại chênh lệch
giá trị đất). Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn kháng cáo của bà T, giữ nguyên
các nội dung cốt lõi của bản án sơ thẩm, nhưng sửa lại cách tuyên án bằng việc bổ
sung điều khoản cho phép bà H được liên hệ cơ quan thẩm quyền cấp lại 02 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nếu bà T cố tình không hoàn trả cho bà H 02 bản
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phân tích đánh giá yêu cầu
kháng cáo của bà Võ Thị T thì Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của bà T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 2 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị T thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 305. Bộ luật Dân sự năm 2005.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1 Bà Võ Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, bà Thành Thị
Thanh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ với 300.000
đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T đã nộp theo biên lai số 0005404
ngày 04-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ (trước khi sáp
nhập). Trả lại cho bà Võ Thị T, ông Thành Công L, ông Thành Công N, bà Thành
Thị Thanh T1 tổng cộng 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp
theo các biên lai thu số 0005403, 0005405, 0005406 cùng ngày 04-11-2022 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ (trước khi sáp nhập).
5.2 Ông Nguyễn Văn T4 và bà Thành Thị H phải chịu 10.417.568 đồng (mười
triệu, bốn trăm mười bảy nghìn, năm trăm sáu mươi tám đồng) án phí dân sự sơ
thẩm.
5.3 Bà Phạm Thị T2 (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Thành
Thị L1, ông Thành Văn T3, bà Thành Thị H) được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí
dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà
bà Võ Thị T đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0007794 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà Võ Thị
T đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người
phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,
-- 12 of 13 --
13
7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 2 –Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Tiền Phương
-- 13 of 13 --