CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số: 67/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026 giữa các
chị. Không quan tâm đến vợ con, nhiều lần xảy ra tranh cãi bất hòa cuộc sống vợ
2
chồng luôn trong tình trạng căng thắng nghiêm trọng. Vì con chung hai bên nói
chuyện nhiều lần nhưng thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn, chị tìm nhiều cách
khắc phục nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng và
căng thẳng hơn. Từ giữa năm 2025 do mâu thuẫn nghiêm trọng nên chị đã chuyển
về sinh sống tại Phú Thọ cho đến nay. Hiện hai bên sống ly thân không ai còn quan
tâm và có trách nhiệm gì với nhau, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không
còn, mâu thuẫn nghiêm trọng hai bên không thể khắc phục đoàn tụ, hôn nhân
không còn hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn anh Lê Duy H.
Về con chung: Chị và anh Lê Duy H có 01 con chung là Lê Gia H1, sinh
ngày 02/8/2024. Đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn.
Hiện tại chị làm công nhân có đủ điều kiện về thời gian và thu thập để nuôi con
chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06 tháng 4 năm 2026, anh Lê Duy H trình
bày:
Anh H thống nhất với lời khai của chị T về việc kết hôn và quá trình chung
sống chị T trình bày là đúng. Cuối tháng 12 năm 2025, anh vi phạm pháp luật và
đã bị Tòa án nhân dân khu vực 11- Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội “Buôn bán
hàng cấm”, hiện anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố
H. Việc chị T xin ly hôn anh đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn
nghiêm trọng hai bên không thể khắc phục đoàn tụ. Đề nghị Tòa án giải quyết cho
anh và chị T ly hôn.
Về con chung: Anh và chị T 01 con chung là Lê Gia H1, sinh ngày
02/8/2024. Ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng sau ly
hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa
án giải quyết
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.