Điều 52. ; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Thị Mỹ L3 từ
03 năm tù đến 04 năm tù.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L7 từ 01
năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.
* Về bồi thường thiệt hại: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các Điều 587,
589 của Bộ luật Dân sự:
- Ghi nhận bị hại anh S1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi
thường thiệt hại.
- Buộc các bị cáo H, A, T1, L3, H2, Ư, T3 phải có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho các bị hại anh D1, anh Q, bà T5, anh P, chị N1, ông G, chị L9, anh H, ông
Ngọc T7, anh Văn T8 theo quy định của pháp luật.
* Xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của
Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng theo quy
định của pháp luật.
Các bị cáo H, A, T1, L3, H2, Ư, T3, L7 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo
trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Bị hại bà T5 và anh H xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các
bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại là H, H2, Anh; các bị hại khác không có
ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (anh Duy A1) không có ý
kiến tranh luận.
-- 10 of 24 --
11
Lời nói sau cùng của bị cáo: tất cả các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt, xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất đề các bị cáo có thể sớm trở về
với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh; Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người
đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: các bị hại anh S1, anh Q, ông
Ngọc T7, anh Văn T8, chị N1 và người đại diện hợp pháp của bị hại N1 (bà T6 và
ông S2); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị N3 Huỳnh vắng mặt và có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nêu trên không
gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng
xét xử xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2.2] Về thủ tục trợ giúp pháp lý: chị N1 là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
là bị hại trong vụ án, đã được các Cơ quan tiến hành tố tụng thông báo và giải thích
về quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định, nhưng chị N1 và
người đại diện hợp pháp của chị N1 (cha, mẹ) từ chối, không yêu cầu thực hiện trợ
giúp pháp lý, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về việc tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự của Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của H cùng đồng
phạm thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) trong
tháng 4-2025, ngày 03-5-2025 và ngày 19-6-2025 như sau:
- 01 xe mô tô Honda, loại Wave, H và L7 lén lút chiếm đoạt vào khoảng tháng
4-2025, tại khu vực giáp ranh giữa thành phố T và thị xã D, tỉnh Bình Dương bán
cho người Campuchia;
- 01 xe mô tô Honda, loại Wave, biển số 23B1-447.70 của ông Nông Thanh
N2, bị chiếm đoạt ngày 03-B-2025, tại khu phố R, phường A, thành phố B, tỉnh Bình
Dương do H thực hiện bán cho T3;
- 01 xe mô tô Honda, loại Wave, biển số 49AH-067.59, của bà Trần Uyển Tố
T10, bị chiếm đoạt ngày 03-5-2025, tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương,
do người tên B thực hiện bán lại cho T1, T1 giao cho L3 và L7 bán lại cho T3;
-- 11 of 24 --
12
- 01 xe mô tô Honda, loại Vario, biển số 59G3-169.11 của bà Nguyễn Thị Kim
L10, sinh năm 1976, ngụ T, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị mất ngày
03-5-2025 do L3 thực hiện và bán cho T3;
- 01 xe mô tô hiệu ESPERO, biển số 69AH-054.90, của ông Nguyễn Chí T12
bị mất ngày 19-6-2025, tại phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương do T1 mua lại
của người tên L11.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển tin báo tội phạm và tài liệu
liên quan kèm theo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố H) để xử lý theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an Thành phố H, Công an phường B, phường T, phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh đã tiếp nhận tin báo tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh T chuyển đến, đang tiến hành điều tra, xác minh theo quy định, trong đó Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ban hành Quyết định tạm đình chỉ
việc giải quyết nguồn tin về tội phạm số M9281/QĐ-CSHS ngày 30-9-2025 chờ kết
quả trưng cầu định giá tài sản. Do đó, việc tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ
án hình sự của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T là có căn cứ, phù hợp với
quy định tại Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi của các bị cáo thể hiện như sau:
[3.1] Do muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vả nên từ ngày 01-
4-2025 đến ngày 04-5-2025, H cùng các đồng phạm gồm Trường A, H2, Ư, T1, L7,
T3 và L3 đã bạc bàn thống nhất với nhau chuẩn bị công cụ, phương tiện, tìm kiếm
tài sản và đã lén lút thực hiện 11 vụ chiếm đoạt tài sản là xe mô tô trên hai địa bàn
huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tỉnh Tây Ninh) và thành phố B, tỉnh Bình Dương
(nay là thành phố Hồ Chí Minh) của những bị hại là anh Hà Văn S1, anh Nguyễn
Anh D1, anh Vũ Văn Q, anh Đinh Văn P, ông Nguyễn Linh G, ông Nguyễn Ngọc
T7, anh Nguyễn Văn T8, bà Nguyễn Thị T5, chị Nguyễn Thị Hồng N1, chị Dương
Thị Hải L9, anh Lê Văn H3 với tổng giá trị tài sản là 160.830.000 đồng, cụ thể như
sau: H3 thực hiện chung với các bị cáo khác 11 vụ, giá trị tài sản chiếm đoạt là
160.830.000 đồng, trong đó: thực hiện chung với Trường A 05 vụ, giá trị tài sản
76.000.000 đồng; chung với T1 03 vụ, giá trị tài sản 56.830.000 đồng; chung với H2
03 vụ, giá trị tài sản 40.000.000 đồng; chung với Ư 02 vụ, giá trị tài sản 26.000.000
đồng; chung với L3 02 vụ, giá trị tài sản 44.830.000 đồng; chung với L7 01 vụ, giá
trị tài sản 18.830.000 đồng; bị cáo T3 thỏa thuận, hứa hẹn trước và đã tiêu thụ 02 xe
mô tô do H3 cùng đồng phạm chiếm đoạt của người khác, giá trị tài sản là 38.000.000
đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
[3.2] Khi thực hiện thành vi phạm tội, tất cả các bị cáo đều có sự cấu kết chặt
chẽ, bàn bạc thỏa thuận thống nhất với nhau, chuẩn bị công cụ, phương tiện và phân
công vai trò cụ thể cho từng người (ai trực tiếp lấy tài sản, ai cảnh giới, ai liên hệ tìm
người tiêu thụ tài sản…), nên hành vi của các bị cáo H3, Trường A, T1, T3, Ư, H2,
L3, L7 bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Phạm tội có tổ chức”
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3.3] Bị cáo H3 không có nghề nghiệp, 11 lần liên tiếp thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản của người khác, tổng giá trị tài sản là 160.830.000 đồng và bị cáo lấy
-- 12 of 24 --
13
khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội là 39.200.000 đồng làm nguồn thu
nhập của bị cáo, nên bị cáo bị áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt
“Có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng
đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ
luật Hình sự.
Bị cáo Trường A 05 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác,
giá trị tài sản là 76.000.000 đồng, hưởng lợi 10.600.000 đồng, nhưng bị cáo có nghề
nghiệp và không lấy khoản tiền thu lợi bất chính nêu trên làm nguồn thu nhập; bị
cáo T1 03 lần thực hiện hành vi tài sản của người khác, giá trị tài sản chiếm đoạt là
56.830.000 đồng, nên các bị cáo A, T1 bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng
hình phạt “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000
đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3.4] Đối với người đàn ông Campuchia mua xe mô tô do bị cáo H3 cùng đồng
phạm trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lại
lịch nên chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
[3.5] Bản Cáo trạng số 37/CT-VKSKV11 ngày 17-12-2025 của Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh truy tố các bị cáo H3, A, T1, L7, H2, Ư, T3, L3 về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và
luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[4] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo
là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản hợp
pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Trong khoảng thời gian ngắn các bị cáo
thực hiện liên tiếp nhiều vụ trộm cắp tài sản là xe mô tô của người dân, gây hoang
mang trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần có
hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo.
[5] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo thấy rằng:
đây là vụ án đồng phạm có tổ chức vì khi thực hiện tội phạm các bị cáo có sự cấu
kết chặt chẽ, có sự bàn bạc, phân công công việc cụ thể:
Đối với bị cáo H3 là người khởi xướng, rủ rê, xúi giục các bị cáo khác thực
hiện tội phạm, trực tiếp hoặc giúp sức cho bị cáo khác cảnh giới khi thực hiện việc
lấy tài sản, nên cần xử phạt bị cáo mức án cao nhất.
Bị cáo Trường A giúp sức cho bị cáo H3 05 lần thực hiện việc chiếm đoạt tài
sản của bị hại, nhiều hơn các bị cáo khác; bị cáo T1 giúp sức cho bị cáo H3 thực
hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản, giữ vai trò là người bàn bạc thỏa thuận với bị cáo T3
về việc sau khi chiếm đoạt được tài sản của bị hại sẽ bán lại cho bị cáo T3 và bị cáo
đã giúp bị cáo H3 bán 02 xe mô tô cho bị cáo T3. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo
Trường A và T1 mức án cao hơn các bị cáo còn lại, nhưng thấp hơn bị cáo H3.
Các bị cáo còn lại tham gia với bị cáo H3 chiếm đoạt tài sản của bị hại cụ thể
như sau: bị cáo H2 tham gia 03 vụ; các bị cáo Ư, L3, T3 mỗi bị cáo tham gia 02 vụ,
bị cáo L7 tham gia 01 vụ, nên cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành
vi của từng bị cáo.
-- 13 of 24 --
14
[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem
xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
[6.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo H3, Trường A3, H2, Ư, L3, T1, T3, mỗi bị cáo thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản của bị hại ít nhất 02 lần và nhiều nhất 11 lần, trị giá tài sản của
từng lần phạm tội đều trên 2.000.000 đồng, nên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1
Điều 52. của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo H3 đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi
phạm tội do cố ý, nên bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy
định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo H3, Trường A, T1, L3,
Ư, H2, T3 và L7 đều thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Gia đình các bị cáo L7, Trường A và T3 đã nộp tiền tại Phòng Thi hành án dân
sự khu vực 11 - Tây Ninh để khắc phục một phần hậu quả, cụ thể: ngày 16-10-2025
bị cáo L7 nộp số tiền 5.000.000 đồng mặc dù bị cáo không phải có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại (do bị hại không yêu cầu); ngày 24-12-2025 gia đình bị cáo Trường
A nộp số tiền 40.000.000 đồng và ngày 14-4-2026 gia đình bị cáo T3 nộp số tiền
5.000.000 đồng, nên các bị cáo L7, Trường A và T3 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ
tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo L7 từng là quân nhân xuất ngũ, Công an viên xã H, huyện T,
tỉnh Tây Ninh, được tặng danh hiệu “Chiến sỹ tiên tiến” các năm 2012, 2015, 2016;
được Chủ tịch UBND xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh tặng Giấy khen do có thành tích
xuất sắc tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm và có ông nội Nguyễn Văn C1 là
người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng
Nhất, Huy hiệu 55 tuổi Đảng, được Chủ tịch UBND tỉnh T tặng Bằng khen và Chủ
tịch UBND huyện T tặng Giấy khen; bị cáo H2 có bà nội Đỗ Thị T13 là Bà Mẹ Việt
Nam Anh hùng và hai bác Vũ Văn L12, Vũ Văn T14 là Liệt sỹ; tại phiên toà, các bị
hại bà T5 và anh H3 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H3, A, H2. Do đó, Hội
đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự đối với các bị cáo H3, A, L7, H2.
[6.3] Xét thấy, bị cáo L7 không có tiền án, tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều
54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L7 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
mà điều luật quy định.
[6.4] Nhân thân: bị cáo T1 từng bị Tòa án kết án về các tội “Trộm cắp tài sản”,
“Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Ư bị xử
phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo H2 bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, mặc dù đã được xóa án
tích, xóa tiền sự nhưng nhân thân các bị cáo vẫn bị xem là xấu.
-- 14 of 24 --
15
[7] Về hình phạt áp dụng:
[7.1] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng,
các bị cáo có tuổi đời còn trẻ nhưng lại lười lao động, mong muốn có tiền tiêu xài cá
nhân mà không phải làm việc, lao động chân chính; trong đó một số bị cáo từng bị
kết án hoặc bị xử phạt hành chính về tội phạm hoặc hành vi trộm cắp tài sản, sau khi
chấp hành xong bản án, quyết định các bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh
nghiệm cho bản thân, có bị cáo từng là chiến sỹ Công an nhân dân biết rõ việc trộm
cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực
hiện. Điều này cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo kém, việc các bị
cáo liên tiếp thực hiện tội phạm trong thời gian ngắn đã gây hoang man cho nhân
dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa
phương, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã
hội một thời gian, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công
dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh,
phòng ngừa tội phạm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.
[7.2] Đối với bị cáo L7 có nhân thân tốt, tham gia trộm cắp tài sản trong vụ án
01 lần với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, chưa được hưởng lợi ích gì
và đã tự nguyện nộp 5.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại; bản thân bị cáo và gia
đình bị cáo được cơ quan, chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh tặng Giấy khen,
Bằng khen và bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 11 tháng 19 ngày (từ ngày 05-5-2025
đến ngày 24-4-2026), nên xét thấy xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giữ,
tạm giam cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[8] Về biện pháp tư pháp:
[8.1] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại anh S1 không
yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tài sản các bị cáo H3, A, T1, H2, Ư, L3, T3 chiếm đoạt của các bị hại anh D1,
anh Q, bà T5, anh P, chị N1, ông G, chị L9, anh H3, ông Ngọc T7, anh Văn T8 hiện
không thu hồi được và các bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo
giá mà Hội đồng định giá tài sản đã định giá tổng cộng là 142.000.000 đồng là có cơ
sở, phù hợp với quy định tại các Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa,
các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc các bị
cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bị hại.
Xét thấy, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho các bị hại,
trong đó bị cáo H3 chia tỷ lệ 6/4 với các bị cáo Trường A, H2; chia tỷ lệ 5/5 với bị
cáo Ư và không xác định được tỷ lệ chia lợi với các bị cáo T3, T1, L3. Căn cứ Điều
587 của Bộ luật Dân sự cần buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho các bị hại, trong
đó trách nhiệm bồi thường của từng bị cáo cùng gây thiệt hại tương ứng với mức độ
lỗi, tỷ lệ hưởng lợi bất chính của từng bị cáo; trường hợp không xác định được mức
độ lỗi thì các bị cáo phải bồi thường theo phần bằng nhau. Tổng số tiền các bị cáo
H3, A, T1, L3, Ư, H2, T3 phải bồi thường cho các bị hại trong 10 vụ chiếm đoạt tài
-- 15 of 24 --
16
sản là 142.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo L7 tự nguyện dùng số tiền 5.000.000
đồng mà bị cáo đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Tây Ninh theo
Biên lai thu số 0001541 ngày 16-10-2025 cho các bị cáo khác để bồi thường cho các
bị hại, đây là sự tự nguyện của bị cáo và phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội
đồng xét xử ghi nhận và khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng vào số tiền các bị cáo khác
phải bồi thường cho các bị hại, số tiền còn lại mà các bị cáo phải tiếp tục bồi thường
là 137.000.000 đồng, cụ thể như sau:
- Các bị cáo H3 và A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh D1
13.000.000 đồng, bà T5 11.000.000 đồng và chị N1 14.000.000 đồng, khấu trừ số
tiền bị cáo L7 tự nguyện bồi thường thay các bị cáo là 1.339.000 đồng (gồm anh D1
458.000 đồng, bà T5 387.000 đồng và chị N1 494.000 đồng), trong tổng số tiền
5.000.000 đồng đã nộp, các bị cáo H3 và A phải tiếp tục bồi thường cho anh D1
12.542.000 đồng, bà T5 10.613.000 đồng, chị N1 13.506.000 đồng, tổng số tiền là
36.661.000 đồng. Trong đó, bị cáo H3 phải bồi thường số tiền là 21.997.000 đồng;
bị cáo A phải bồi thường số tiền là 14.664.000 đồng.
- Các bị cáo H3 và H2 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh
Văn T8 14.000.000 đồng, ông Ngọc T7 13.000.000 đồng và anh H3 13.000.000
đồng, tổng cộng 40.000.000 đồng, khấu trừ số tiền bị cáo L7 tự nguyện bồi thường
thay các bị cáo là 1.410.000 đồng (gồm anh Văn T8 494.000 đồng, anh H3 458.000
đồng, ông Ngọc T7 458.000 đồng), trong tổng số tiền 5.000.000 đồng đã nộp, các bị
cáo H3 và H2 phải tiếp tục bồi thường cho anh Văn T8 13.506.000 đồng, anh H3
12.542.000 đồng và ông Ngọc T7 12.542.000 đồng, tổng cộng 38.590.000 đồng.
Trong đó, bị cáo H3 phải bồi thường số tiền 23.153.000 đồng; bị cáo H2 phải bồi
thường 15.437.000 đồng.
- Các bị cáo H3 và Ư phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho ông
G 10.000.000 đồng và chị L9 16.000.000 đồng, tổng cộng 26.000.000 đồng, khấu
trừ số tiền bị cáo L7 tự nguyện bồi thường thay các bị cáo là 916.000 đồng (gồm ông
G 352.000 đồng, chị L9 564.000 đồng), trong tổng số tiền 5.000.000 đồng đã nộp,
các bị cáo H3 và Ư phải tiếp tục bồi thường cho ông G 9.648.000 đồng và chị L9
15.436.000 đồng, tổng cộng 25.084.000 đồng. Trong đó, mỗi bị cáo phải có trách
nhiệm bồi thường cho ông G 4.824.000 đồng và bồi thường cho chị L9 7.718.000
đồng.
- Các bị cáo H3, A, T3, T1 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại
cho anh Q số tiền 12.000.000 đồng, khấu trừ số tiền bị cáo L7 tự nguyện bồi thường
thay các bị cáo là 420.000 đồng (trong tổng số tiền 5.000.000 đồng đã nộp), các bị
cáo H3, A, T3, T1 phải tiếp tục bồi thường cho anh Q số tiền 11.580.000 đồng, trong
đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Q 2.895.000 đồng.
- Các bị cáo H3, A, T3, T1 và L3 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại cho anh P số tiền 26.000.000 đồng, khấu trừ số tiền bị cáo L7 tự nguyện bồi
thường thay các bị cáo là 915.000 đồng (trong tổng số tiền 5.000.000 đồng đã nộp),
các bị cáo H3, A, T3, T1, L3 phải tiếp tục bồi thường cho anh P 25.085.000 đồng,
trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh P 5.017.000 đồng.
-- 16 of 24 --
17
Gia đình bị cáo A đã nộp thay bị cáo số tiền 40.000.000 đồng theo Biên lai thu
số 0002766 ngày 24-12-2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Tây Ninh
để khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa, bị cáo A yêu cầu được nhận lại số tiền chênh
lệch sau khi khấu trừ số tiền bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường, xét yêu cầu này là
phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Gia đình bị cáo T3 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001659
ngày 14-4-2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Tây Ninh, khấu trừ số
tiền bị cáo T3 phải bồi thường cho các bị hại là 7.912.000 đồng, bị cáo T3 còn phải
nộp tiếp số tiền 2.912.000 đồng.
[8.2] Xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106
của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy:
- Tài sản thu giữ của các bị cáo có liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng
không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Tài sản thu giữ của các bị cáo có liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng
còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Quá trình điều tra,
anh Duy A1 yêu cầu nhận lại điện thoại di động hiệu Oppo A60, màu đen, kiểu máy
CPH2631, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Trường A, điện thoại này bị cáo Trường
A sử dụng để liên lạc thực hiện tội phạm; tại phiên toà, anh Duy A1 không chứng
minh được tài sản thu giữ thuộc sở hữu của anh và anh cũng không yêu cầu nhận lại
tài sản, do đó căn cứ quy định của pháp luật cần tịch thu sung tài sản vào ngân sách
Nhà nước.
- Tiền và tài sản thu giữ của các bị cáo không liên quan đến việc thực hiện tội
phạm cần trả lại cho các bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tài sản thu giữ của bị cáo nhưng xác định thuộc quyền sở hữu của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và không liên quan đến việc thực hiện tội
phạm, nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
[9] Lệnh kê biên tài sản số 804, 805, 806 cùng ngày 01-10-2025 của Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T kê biên quyền sử dụng đất của các bị cáo L7, T1,
T3 cần tiếp tục duy trì cho đến khi các bị cáo chấp hành xong các khoản tiền phạt và
án phí.
[10] Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1