CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 15 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng
Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Cao C có thời gian tự do tìm hiểu,
tự nguyện đến với nhau và quyết định tiến đến hôn nhân. Vào đầu năm 2000, hai
2
anh chị được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, do
thời điểm đó chị chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên chị và anh C về chung sống cùng
nhau chứ chưa đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cho đến
khoảng tháng 10/2000, khi chị đủ tuổi chị cùng anh C mới đi đăng ký kết hôn tại
UBND xã Đ nay là UBND xã N theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống,
vợ chồng chị sống không hòa thuận, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau,
anh C đánh đập chị rất nhiều lần nhưng cũng vì thương con nên chị chịu đựng, nhẫn
nhịn cho đến khoảng giữa năm 2014 thì vợ chồng lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do bản thân anh C không chịu đi làm, ham chơi dẫn đến nghiện ma
túy, anh C bán hết đồ dùng sinh hoạt trong gia đình và cả C1ếc xe máy là phương
tiện chị đi làm anh C cũng bán nốt để mua ma túy chơi khiến kinh tế gia đình gặp
nhiều khó khăn. Ngoài ra, bản thân anh C không tin tưởng chị, ngay sau khi anh C
đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc về, anh C thường xuyên ghen tuông,
cấm đoán chị không cho chị đi đâu, ngay cả khi chị sang nhà mẹ đẻ chị anh C cũng
không cho đi dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi nhau, anh C lại giở thói vũ phu đánh đập
chị khiến chị sợ hãi không muốn chung sống cùng anh C nữa. Đến khoảng giữa
tháng 12/2025, do sợ hãi anh C đánh nên chị chuyển về nhà mẹ chị tại thôn N, xã
N, tỉnh Hưng Yên sinh sống, vợ chồng chị sống ly thân từ thời điểm đó cho đến
nay, không còn quan tâm hay liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định không còn
tình cảm vợ chồng với anh C, do nhầm lẫn, chị xác định vợ chồng chị chưa đăng
ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên khi làm đơn khởi kiện chị có
yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh C.
Đến nay, chị xác nhận lại, chị và anh C có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nên chị xin thay đổi quan điểm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 04 con chung là cháu Trần Thị Hồng A,
sinh năm 2000, cháu Trần Thị Phương T, sinh năm 2007, cháu Trần Thị Phương
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.