CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 04 tháng 3 năm 2026 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết
2
chị không thể chia sẻ công việc gia đình với nhau. Lúc đó mới biểu hiện rõ anh
chị có cách nghĩ, cách sống, cách cư xử khác nhau, tính cách không hợp nên anh
chị không còn tiếng nói chung. Anh N chơi bời, cờ bạc không chăm lo cho gia
đình, có lần anh N đã lừa chị P để lấy tiền đi chơi cờ bạc. Chị P động viên khuyên
bảo anh N nhiều lần nhưng anh N không thay đổi, còn cho rằng chị P đã quan tâm
quá mức về các vấn đề riêng tư của anh ấy nên anh N đã có những lời lẽ đe dọa,
xúc phạm chị P. Do vợ chồng chị P hiếm muộn con nên cần có sự điều trị và can
thiệp của y tế. Chị P đã rất lỗ lực kiểm tra, khám để xác định nguyên nhân với hy
vọng vợ chồng có con chung. Chị P nghĩ có con sẽ là động lực, là sợi dây kết nối
tình cảm giữa hai vợ chồng. Để có kết quả tốt nhất thì cần phải có sự thăm khám
và điều trị của cả hai nhưng anh N không hợp tác mà cho rằng nguyên nhân hiếm
muộn là do chị P. Chị P vô cùng thất vọng về việc đã đặt hy vọng vào anh N, đã
mong muốn anh N sẽ là nguồn động viên của chị P để vợ chồng cùng nhau xây
dựng hạnh phúc. Đến khoảng tháng 3/2023 thì mâu thuẫn vợ chồng càng trầm
trọng, anh N thường xuyên không có nhà nên tình cảm của vợ chồng không có
thời gian và điều kiện để vun đắp. Do chán nản và áp lực nên chị P đi làm ở công
ty, chị P không về gia đình anh N nữa mà thuê nhà trọ ở gần công ty để tiện cho
công việc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 03/2023 cho đến nay, không còn quan
tâm đến nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên bảo, động viên nhưng
hôn nhân không thể có hạnh phúc khi chỉ có sự nỗ lực của một mình chị P. Anh
chị đã không còn cách giải quyết để tìm được quan điểm chung với nhau nữa, hôn
nhân không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân nên chị P đề nghị Tòa án giải
quyết cho chị P được ly hôn với anh N.
- Về con chung: Chị P và anh N không có con chung.
- Về tài sản, công sức, công nợ, ruộng canh tác: Chị P xác định không có
nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Tô Văn N không đến Tòa án làm
việc theo giấy triệu tập. Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương đến nhà
nhưng anh N không có mặt ở nhà nên không tiến hành lấy lời khai của anh N
được. Do anh N không đến Tòa án làm việc nên không thể tiến hành hòa giải
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.