luật Hình sự, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ
luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án
treo của các bị cáo Dương Quốc K và Lâm Phúc D.
- Bị cáo Dương Quốc K và Lâm Phúc D thống nhất với quan điểm của người
bào chữa, không tham gia tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo không trình bày thêm gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về đơn kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo đúng
theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp
nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa
nhận hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Xét thừa nhận của các
bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng
cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, từ đó đủ cơ
sở xác định:
Vào ngày 31 tháng 12 năm 2023, tại phần đất trước nhà của bị cáo Lê Minh
L, thuộc ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp T, xã T, thành phố Cần
Thơ), các bị cáo Dương Quốc K, Lâm Phúc D đã thực hiện hành vi tổ chức cho
-- 6 of 11 --
7
bị cáo Đỗ Thanh T và các đối tượng khác tham gia đá gà thắng thua bằng tiền để
thu tiền xâu 200.000 đồng/trận, cụ thể: các bị cáo Dương Quốc K, Lâm Phúc D
đã tổ chức được 03 trận với tổng số tiền tham gia đá hàng sổ là 6.200.000 đồng,
trong đó trận thứ nhất và thứ hai đã kết thúc, các bị cáo thu tiền xâu là 400.000
đồng, riêng trận thứ 3 đang diễn ra thì bị bắt quả tang, các bị cáo chưa thu được
tiền xâu, trong đó:
Bị cáo Dương Quốc K vừa tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc với
định lượng số tiền sử dụng đánh bạc là 6.200.000 đồng, vừa trực tiếp tham gia đá
ở độ gà thứ hai với số tiền tham gia đánh bạc là 2.200.000 đồng. Ngoài ra, còn thu
giữ được 2.700.000 đồng của các đối tượng đá hàng sáo ở bên ngoài, trong đó:
Bị cáo Lâm Phúc D vừa tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc với định
lượng số tiền sử dụng đánh bạc là 6.200.000 đồng, vừa trực tiếp tham gia đá ở độ
gà thứ ba với số tiền tham gia đánh bạc là 1.800.000 đồng,
Bị cáo Đỗ Thanh T tham gia đánh bạc ở độ gà thứ ba, số tiền sử dụng đánh
bạc là 200.000 đồng, tổng giá trị tài sản sử dụng đánh bạc trong độ gà này là
1.800.000 đồng.
Mặc dù bị cáo Dương Quốc K và Lâm Phúc D tổ chức được 03 độ tuy nhiên
độ gà này kết thúc mới tiếp tục mở độ gà khác nên không được xác định các độ
gà diễn ra cùng một lúc. Mặc khác, số tiền các con bạc tham gia thắng thua với
nhau được xác định của 03 độ gà là 6.200.000 đồng. Xét về quy mô và định lượng
là chưa đủ mức tối thiểu để xem xét định tội các bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc”
nên hành vi của các bị cáo Dương Quốc K và Lâm Phúc D đã có đủ yếu tố cấu
thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321
của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Đỗ Thanh T tham gia đánh bạc ở độ gà thứ ba, số tiền bị
cáo sử dụng đánh bạc là 200.000 đồng, tổng giá trị tài sản sử dụng đánh bạc trong
độ gà này là 1.800.000 đồng mặc dù chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm
hình sự nhưng về nhân thân bị cáo đã bị xét xử về “Tội đánh bạc”, chưa hết thời
hạn để được xoá án tích mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo Đỗ Thanh T đã
có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại
khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS – ST ngày 09/3/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 13-Cần Thơ đã xét xử các bị cáo là có căn cứ, đúng người,
đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo: xin được giảm nhẹ hình phạt và chuyển
sang án treo thấy rằng,
[3.1] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bị cáo xâm phạm đến
trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm phát sinh
mâu thuẫn trong gia đình và xã hội và cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm
khác. Tại thời điểm phạm tội, các bị cáo có đầy đủ nhận thức, các bị cáo đều biết
rất rõ hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền là pháp
luật nghiêm cấm. Tuy nhiên vì muốn có tiền chi xài mà không phải lao động vất
-- 7 of 11 --
8
vả, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện với mục đích thu được khoản lợi bất chính. Do
đó, các bị cáo phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét đến vai trò, tính chất, mức
độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, cụ thể:
[3.2] Đối với bị cáo Dương Quốc K và bị cáo Lâm Phúc D cùng đồng phạm
đứng ra tổ chức cho các con bạc sát phạt lẫn nhau nhằm mục đích thu tiền xâu,
trong đó bị cáo K làm nhiệm vụ đứng ra hẹn các chủ gà, chuẩn bị băng keo, cựa
sắt và cân đồng hồ phục vụ cho việc đánh bạc. Bị cáo D hướng dẫn cho các chủ
gà cân gà và làm trọng tài phân định thắng thua tại sân gà. Ngoài việc đứng ra tổ
chức, bị cáo K, bị cáo D còn trực tiếp tham gia đánh bạc sát phạt thắng thua với
các đối tượng khác. Với hành vi bị cáo K và bị cáo Duy thực H cho thấy các bị
cáo được xem là những người có vai trò chính, đứng ra tổ chức, tập hợp, lôi kéo
được rất nhiều đối tượng tham gia vào việc đá gà, ngoài những đối tượng tham
gia đá sổ với nhau còn rất nhiều đối tượng bên ngoài tham gia đá hàng sáo gây
mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên việc cho bị
cáo K và bị cáo D được hưởng án treo sẽ không nghiêm minh, tạo ra tiền lệ xấu
cho xã hội. Do đó, cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo K và bị cáo D
là phù hợp là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm
nhẹ cho hai bị cáo K và D như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần
đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, từ đó cấp sơ thẩm quyết
định mức án 06 tháng tù đối với hai bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo K có cung cấp được biên lai nộp số tiền thu lợi bất
chính và biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D cung cấp được biên
lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho các bị cáo để áp dụng cho bị cáo
K và bị cáo D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự.
Mặc dù được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự tuy nhiên với tính chất, mức độ hành phạm tội của cáo K
và bị cáo D cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với hai bị cáo mới đủ sức răn
đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, không Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo K và bị cáo D.
[3.3] Đối với bị cáo Đỗ Thanh T, xét thấy bị cáo tham gia đánh bạc với số
tiền 200.000 đồng, tổng số tiền trong độ gà bị cáo tham gia 1.800.000 đồng nên
xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là thấp hơn so với bị cáo K
và bị cáo D.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được xác nhận của Ủy ban nhân dân xã
nơi bị cáo cư trú, nội dung xác nhận thể hiện bị cáo là người chung sống và có
chăm sóc nuôi dưỡng cha, mẹ của bị cáo cũng chính là cha mẹ của liệt sĩ Đỗ Thanh
K3 nên được Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại
-- 8 of 11 --
9
điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm
sát.
Từ các căn cứ trên, xét thấy bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định
tại khoản 1 Điều 51 và có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện được hưởng án
treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời để thể hiện tính nhân
đạo, khoan hồng của pháp luật, khuyến khích việc bồi thường, khắc phục hậu quả
sau khi phạm tội, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm
sát tại phiên tòa, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng
thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và để bị cáo
được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác
dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
[4] Từ các phân tích trên xét thấy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Dương Quốc K và bị cáo Lâm Phúc D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình
phạt đối với bị cáo Dương Quốc K và bị cáo Lâm Phúc D. Chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Đỗ Thanh T, sửa bản án sơ thẩm đã tuyên về phần hình phạt đối với bị
cáo T. Việc sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đã tuyên đối với bị cáo T do có thêm
tình tiết giảm nhẹ mới, không phải lỗi của cấp sơ thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham
gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo,
kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136
của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Dương Quốc K và bị cáo Lâm Phúc D phải chịu do kháng cáo của các
bị cáo không được chấp nhận.
Bị cáo Đỗ Thanh T không phải chịu do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Quốc K và bị cáo Lâm Phúc
D xin được hưởng án treo;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thanh T xin được hưởng án treo;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS – ST ngày 09/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 13–Cần Thơ về hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thanh T.
-- 9 of 11 --
10
1. Tuyên bố: Các bị cáo Dương Quốc K, Lâm Phúc D, Đỗ Thanh T phạm tội
“Đánh bạc”.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 38, Điều 50, các điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Quốc K 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ
ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31 tháng 12
năm 2023 đến ngày 03 tháng 01 năm 2024.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 38, Điều 50, các điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Phúc D 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày
bị cáo chấp hành án.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án (29/5/2026).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo
dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự”
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Án phí Hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136
của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc các bị cáo Dương Quốc K, Lâm Phúc D mỗi bị cáo phải nộp 200.000
đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Đỗ Thanh T không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
-- 10 of 11 --
11
Nơi nhận:
- VKSND TP. Cần Thơ;
- CQCSĐT TP. Cần Thơ;
- TAND, VKSND, Phòng THADS
khu vực 13 – Cần Thơ;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thọ
-- 11 of 11 --