CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số 57/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026 và
Điều 35. , điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân
dân khu vực 13 – An Giang thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật. [1.2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung. 3 [2] Về nội dung vụ án: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông K xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Hữu Cảnh (nay là xã TMT) theo giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 23/4/2024. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 9 và Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và phải có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông bà đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên làm cho hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông bà đoàn tụ nhưng không thành, bà T cương quyết ly hôn. Ông K nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Qua đó, cho thấy ông K không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a, điểm c khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T là có cơ sở nên chấp nhận. [2.2] Về con chung: xét thấy con chung hiện dưới 36 tháng tuổi và do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về tâm lý, môi trường sống, nơi ở, đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung, căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. [2.3] Về cấp dưỡng: ông K không phải cấp dưỡng cho con chung do bà T không yêu cầu. [2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3] Về án phí dân sự: bà T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5
đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông K hay xúc phạm bà khi
xảy ra mâu thuẫn. Ngoài ra, khi xảy ra mâu thuẫn ông K nhiều lần dùng hung
khí đe dọa bà, hiện đã sống ly thân từ tháng 8/2025 cho đến nay không thể hàn
gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được nên yêu cầu ly hôn với ông K.
- Về con chung: có 01 (một) con chung tên Huỳnh Ngọc Anh T1, sinh
ngày 28/7/2024, hiện đang sống với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi
dưỡng con chung, không yêu cầu ông K cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng bị đơn ông Huỳnh M K vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày
ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – An Giang phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về
việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn
của bà T, cho bà T được ly hôn với ông K.
- Về con chung: đề nghị giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: bà T không yêu cầu nên không đề nghị xem xét
- Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, bị đơn cư trú tại xã TMT, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28,
Điều 27. của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; 4 Căn cứ vào Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao; Căn cứ vào điểm a khoản 5 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. - Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Huỳnh M K. - Về con chung: bà Đỗ Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Huỳnh Ngọc Anh T1, sinh ngày 28/7/2024. Ông Huỳnh M K không phải cấp dưỡng cho con chung. + Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. + Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. - Về tài sản chung và nợ chung: không có. - Về án phí dân sự: Bà Đỗ Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 300736 ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. - Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 5 Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ - TAND tỉnh An Giang; - VKSND KV13 – An Giang; - THADS tỉnh An Giang; - UBND xã TMT; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu: VT. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Quang 6
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.