CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc144/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2026 giữa:
Điều 35. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về hôn nhân: ông Diệp Minh H và bà Đặng Thị N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998, ông bà có tổ chức đám cưới nhưng từ năm 1998 đến nay ông bà vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Tại phiên tòa, ông H và bà N đều cho rằng hai người không hợp và thường xuyên cãi nhau nên ông, bà đã tự ly thân từ cuối năm 1999 đến nay. Ông H và bà N đều có nguyện vọng ly hôn với nhau. Do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu ly hôn của ông bà; mà cần áp dụng
nợ chung không có.
Tại phiên tòa, ông Diệp Minh H yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân ông H
yêu cầu ly hôn với bà Đặng Thị N. Về con chung có một người con tên Diệp Minh T,
sinh năm 1999 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung ông H xác định là không có nên ông không yêu cầu Tòa
án giải quyết. Ngoài ra, ông H không yêu cầu gì thêm.
* Tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Đặng Thị N trình bày: Bà
N thống nhất với lời trình bày của ông Diệp Minh H về ngày tháng năm sống chung với
nhau, bà thừa nhận là bà và ông H có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn
theo quy định pháp luật, ông bà tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 1998 đến
cuối năm 1999 thì ông bà ly thân mỗi người sống một nơi vì ông bà không hợp nhau. Bà
và ông H có một con chung tên Diệp Minh T, sinh năm 1999. Bà và ông H không có tài
sản chung và nợ chung.
Tại phiên tòa, Về hôn nhân bà N đồng ý ly hôn với ông Diệp Minh H. Về con
chung tên Diệp Minh T, sinh năm 1999 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà N không yêu
cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung bà N xác định là không có nên bà N
không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà N không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn
diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ông Diệp Minh H yêu cầu ly hôn với bà Đặng Thị N và bị đơn là
bà N có địa chỉ tại ấp P, xã V, tỉnh A nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác
định quan hệ pháp luật “ly hôn” và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 28,
Điều 53. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên không công nhận quan hệ giữa ông
Diệp Minh H và bà Đặng Thị N là quan hệ vợ chồng. 3 [3] Về con chung: ông H, bà N đều xác nhận có một người con chung tên Diệp Minh T, sinh năm 1999 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX miễn xét. [4] Về tài sản chung và nợ chung: ông H, bà N xác định là không có nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Án phí hôn nhân bằng 300.000đồng ông H phải nộp do ông có yêu cầu. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 53 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Về hôn nhân không công nhận quan hệ giữa ông Diệp Minh H và bà
Đặng Thị N là quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông Diệp Minh H phải nộp án phí là 300.000đồng
(ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 300184 ngày 21/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, ông H đã nộp xong án phí HNST.
4. Ông H, bà N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án
ngày 07/4/2026. TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND KV5; -THA; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. Danh Thị Kiều Oanh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.