CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải
cho đến nay. Nay chị nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm
vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1.
2
- Về con chung: Chị T xác định, chị và anh T1 có 01 con chung tên là Phạm Đức
A, sinh ngày 20/10/2024. Hiện cháu Đức A đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị
yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Đức A và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi
tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Đức A đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Chị T xác định, không có tài sản chung nên không yêu
cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T xác định, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa
án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh T1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau phát biểu việc tuân
theo pháp luật của Tòa án và quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký,
Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp
luật quy định. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và
gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1, cho chị T và anh T1
ly hôn; về con chung: Giao con chung tên Phạm Đức A cho chị T trực tiếp nuôi
dưỡng; về cấp dưỡng: Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đức A mỗi tháng
2.000.000 đồng cho đến khi cháu Đức A đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung:
Chị T xác định không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đương sự phải
chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; sau khi nghe ý
kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử xét
thấy:
[1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Phạm Văn T1 lần thứ hai nhưng
anh T1 vẫn vắng mặt không rõ lý do; nguyên đơn chị T có đơn yêu cầu xét xử
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.