Điều 106. Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc Vũ Thị T phải nộp lại số tiền 40.740.000 đồng ( bốn mươi triệu bảy
trăm bốn mươi nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.
Buộc Nguyễn Thị T3 phải nộp lại số tiền 4.240.000 ( bốn triệu hai trăm bốn
mươi nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Vivo Y36, màu xanh thu giữ của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Galaxy A23, màu đen thu giữ của bị cáo T;
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim số 0868.897.651 gắn trong điện thu
giữ của bị cáo T3; 01 (một) thẻ sim số 0349.819.636 gắn trong điện thu giữ của
bị cáo T.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và
có nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức
án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Quảng Ninh,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại
phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: xét lời khai của các bị cáo tại Cơ quan
điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác
có trong hồ sơ vụ án như biên bản người phạm tội đầu thú, kết luận giám định và
các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại
phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 10/11/2025,
tại phường M, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Thị T và Nguyễn Thị T3 có hành vi đánh bạc
được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền đánh bạc
là 5.716.000 đồng ( năm triệu bảy trăm mười sáu nghìn đồng).
-- 5 of 10 --
6
Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Thị T, Nguyễn Thị T3 đã phạm tội
“Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ninh truy tố bị cáo với tội danh
và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật cần được chấp nhận.
[3] Về đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị
cáo:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi
của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu
đến nếp sống văn hóa tại địa phương, gây mất ổn định trật tự xã hội. Đánh bạc là
một trong các tệ nạn mà Nhà nước đã có nhiều biện pháp ngăn chặn vì từ đó
thường xuyên nảy sinh nhiều vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo đều nhận thức
được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thu lời bất chính
nên vẫn cố ý vi phạm. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục, cải
tạo các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như
phòng ngừa chung.
Về vai trò trong vụ án: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Đối
với bị cáo T là người trực tiếp nhận số lô, đề của những người chơi, sử dụng tài
khoản zalo để trao đổi việc mua bán số lô, số đề và cũng là người trực tiếp chi trả,
thanh toán tiền thắng thua cho những người chơi, do vậy bị cáo T giữ vai chính
trong vụ án. Bị cáo T3 là người trực tiếp tham gia đánh bạc với bị cáo T bằng hình
thức mua số lô, số đề nên bị cáo T3 chỉ là người tham gia đánh bạc, vai trò thấp
hơn bị cáo T.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Vũ Thị T, Nguyễn
Thị T3 có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; quá trình điều tra và
tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu
và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã
hội mà để bị cáo cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền
địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và thể hiện tính nhân
đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là lao động
tự do không có thu nhập ổn định và không có tài sản do đó không áp dụng hình
phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải
cách ly các bị cáo khỏi xã hội nên căn cứ điểm d khoản 1 khoản 2 Điều 125 Bộ
luật Tố tụng hình sự cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và
Tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo.
-- 6 of 10 --
7
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y36, màu xanh thu giữ
của bị cáo T3; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A23, màu đen
thu giữ của bị cáo T. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch
thu sung ngân sách Nhà nước;
Đối với: 01 (một) thẻ sim số 0868.897.651 gắn trong điện thu giữ của bị
cáo T3; 01 (một) thẻ sim số 0349.819.636 gắn trong điện thu giữ của bị cáo T
không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 5.716.000 đồng (trong đó: 1.476.000 đồng là số tiền bị cáo
T3 mua số lô, số đề của bị cáo T; 4.240.000 đồng là số tiền bị cáo T3 thắng bạc)
và số tiền 39.264.000 đồng (trong đó: 34.019.000 đồng là số tiền bị cáo T3 mua
số lô, số đề của bị cáo T; 1.340.000 đồng là số tiền H1 mua số lô, số đề của bị cáo
T; 60.000 đồng là số tiền Lệ mua số lô, số đề của bị cáo T; 290.000 đồng là số
tiền Y mua số lô, số đề của T; 3.555.000 đồng là số tiền S mua số lô, số đề của T)
là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu, sung ngân sách nhà nước.
[8] Về các tình tiết khác:
Đối với hành vi đánh bạc trước và sau ngày 10/11/2025 của Nguyễn Thị
T3, Vũ Thị T, Trương Thị S, Mủn Thanh H1, Vi Nhật L1 đều dưới 5.000.000
đồng, quá trình điều tra không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với T3, T, S, H1, L1
về những lần đánh bạc này, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Phòng
C Công an tỉnh Q để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Đối với Chu Thị Y có hành vi đánh bạc vào các ngày 16/01/2025,
15/02/2025. Tuy nhiên, đến thời điểm bị phát hiện ngày 23/3/2026 đã hết thời
hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.
Đối với số tiền T chuyển vào tài khoản của Trần Văn K nhưng quá trình
điều tra K không thừa nhận hành vi đánh bạc với T, số tiền T chuyển cho K là tiền
thanh toán mua bán hải sản giữa K và T. Cơ quan điều tra đã tiến hành hết các
biện pháp điều tra theo tố tụng nhưng không đủ căn cứ chứng minh K là người
thực hiện hành vi phạm tội nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Trần Văn K.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh:
Căn cứ: khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T và Nguyễn Thị T3 phạm tội “ Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
-- 7 of 10 --
8
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17;