Điều 17. ; Điều 58; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Lai Q1
03 (ba) năm tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời gian thử thách
là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/12/2025), giao bị cáo cho
Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo (Lục Viết T1, Phạm Văn D1, Đặng Lai
Q1) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi
hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (Lục Viết T1, Phạm
Văn D1, Đặng Lai Q1) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án
hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo
quy định của pháp luật.
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 11/12/2025, bị cáo Lương Văn B có
đơn kháng cáo kêu oan.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo Lương Văn B thừa nhận diễn biến sự
việc xảy ra ngày 28/4/2024. Các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như
bản án sơ thẩm nêu về diễn biến hành vi và lời nói của bị cáo là chính xác. Do
nhận thức của bị cáo còn hạn chế nên mới xử sự như vậy. Nếu bị cáo nhận thức
được thì bị cáo sẽ không làm như vậy. Bị cáo nghĩ là do anh L có việc trốn tránh bị
cáo nhiều lần không liên lạc được nên khi gặp anh L bị cáo đã bức xúc và có lời
nói như vậy. Theo nhận thức của bị cáo là bị cáo không có tội.
Người làm chứng anh Đặng Lai Q1, Lục Viết T1, Phạm Văn D1 trình bày lời
khai của các anh tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn
chính xác và thừa nhận anh L không tự đề xuất viết giấy bán xe cũng như cam kết
nhận nợ mà do sợ các bị cáo đánh nên phải viết bản cam kết nhận nợ và để lại xe
để làm tin theo yêu cầu của T1, B; phải viết giấy bán xe theo yêu cầu của B.
-- 8 of 15 --
9
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau
khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với
bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và
đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm của bị cáo
Lương Văn B;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, sửa
bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và mức hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương
Văn B từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài
sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn
đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến ngày 19/3/2025.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa: Luật sư đề nghị HĐXX
phúc thẩm tuyên bị cáo vô tội, bởi lẽ: Bản chất vụ việc là tranh chấp dân sự, bị hại
có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị cáo thông qua hợp đồng kinh tế. Mục
đích của bị cáo là thu hồi tài sản của mình chứ không phải chiếm đoạt tài sản của
bị hại; Có sự tự nguyện của bị hại trong việc đề nghị để lại chiếc xe để trả nợ; Việc
viết giấy bán xe và cam kết của bị hại là hoàn toàn tự nguyện; Tại quán cà phê là
nơi công cộng, B chỉ có hành vi thể hiện sự bức xúc của chủ nợ; Hành vi trình báo
công an ngay lập tức thể hiện bị cáo không có mục đích chiếm đoạt. Cấp sơ thẩm
có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án
(BL 49; 130); Việc xử lý vật chứng không đúng quy định, chiếc xe đang được xem
xét là tang vật vụ án thì việc tiếp nhận kiểm tra phải theo quy đnh của BLTTHS
nhưng không có biên bản tạm giữ, quy trình tạm giữ tang vật gây thiệt hại cho
Lương Văn B. Việc ông Lương Văn B bị quy kết tội “cưỡng đoạt tài sản” là không
đúng, đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết đối với ông B, Trong
trường hợp chưa đủ căn cứ để tuyên ông B vô tội đề nghị HĐXX hủy bản án đề
điều tra bổ sung lại vụ án.
* Bị cáo nhất trí với bài bào chữa của Luật sư và không có ý kiến trình bày gì
thêm.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Mặc dù xuất phát từ hợp đồng kinh tế tuy
nhiên các bị cáo không nhờ pháp luật can thiệp mà lại tự xử lý. Nếu anh L tự
nguyện viết giấy tờ trên thì không có việc anh L ngay sau đó đã đến trình báo cơ
quan công an. Không có căn cứ tuyên vô tội đối với bị cáo Lương Văn B. Về ý
kiến cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì trên cơ sở các tài
liệu thu thập được trong hồ sơ thì xác định người tên Trần Minh C là có thật. Đối
với ý kiến cho rằng không xem xét việc B đến Công an xã T trình báo sự việc,
theo lời khai của ông H2, khi gặp ông thì cả B và anh L không đặt vấn đề trình báo
-- 9 of 15 --
10
gì. Về việc tiếp nhận xe ô tô Bến giao nộp không kiểm đếm, niêm phong theo quy
định: Chiếc xe ô tô này do bị cáo mang đến và tự nguyện giao nộp, không bị
CQĐT thu giữ, nên không cần thiết phải niêm phong chiếc xe. Hơn nữa chiếc xe
cũng đã được trả lại cho anh L, anh L không có bất kỳ khiếu nại gì liên quan đến
chiếc xe.
Luật sư Q đối đáp: Về yếu tố cấu thành tội phạm: Bến đến có hành vi chửi
bậy, nói to tiếng thì một người bị nợ mấy năm mới gặp được L thông qua nhiều tin
nhắn, cuộc gặp thì về mặt cảm quan thì lời nói đó không phải là đe dọa. Trong
toàn bộ không gian đó có chứng cứ điện tử, lời khai của các bị cáo khác đều thể
hiện bị hại vẫn rất bình tĩnh điện thoại cho người khác vay tiền. Sau đó theo gợi ý
của T1 thì viết giấy bán xe. L còn cam kết xe sử dụng hợp pháp. Việc không tổ
chức đối chất thì cơ quan điều tra không làm rõ. Việc làm tê liệt tinh thần anh Linh
trong trường hợp này là hoàn toàn không có. Về chuyển quyền sở hữu tài sản: Nếu
không có việc mua bán thì quyền sở hữu tài sản là của bà L1. Cơ quan điều tra
không làm rõ không có sự đồng ý của bà L1 thì ông L có quyền để lại tài sản để
làm tin không? Không đảm bảo yếu tố về tài sản theo Điều 170 BLHS. Theo Biên
bản tiếp nhận người phạm tội thì có 03 trang liên quan là tài liệu đánh giá một
người phạm tội hay không phạm tội thì 02 trang đầu không có chữ ký của B. Về số
tiền 20.000.000đ không khai báo thì ở buổi làm việc cuối cùng trước khi sát nhập
thì ông B có trình bày, tại phiên tòa sơ thẩm Bến có trình bày có cung cấp hợp
đồng để có số tiền 20.000.000đ đó thì không được xem xét. Việc tiếp nhận tang
vật phải đảm bảo quy định của pháp luật, chỉ ghi không kiểm định, không niêm
phong là không đảm bảo. Đề nghị hủy án.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của luật sư.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Phía bị cáo B có lực lượng đông người, khi
đến gặp anh L thì có lời nói to tiếng, đe dọa uy hiếp tinh thần anh Linh, với sự
không tương quan về lực lượng như vậy đã khiến anh L lo sợ, buộc phải viết giấy
bán xe cho bị cáo. Đối với số tiền 20.000.000đ trong cốp xe ô tô: Tại biên bản tiếp
nhận người phạm tội đến đầu thú thì chỉ ghi nhận B giao nộp 01 chiếc điện thoại
di động và 01 chiếc xe ô tô Huyndai Accent màu trắng, BKS: 19A-388.06 đã qua
sử dụng, không giao nộp gì khác; ngoài ra trong các lời khai của bị cáo cũng
không khai báo về số tiền này, nên không có cơ sở để xác định có số tiền 20 triệu
đồng để trong xe ô tô trên. Về biên bản tiếp nhận người đầu thú bị cáo chỉ ký trang
3 là do sơ suất của Điều tra viên, tuy nhiên không ảnh hưởng đến bản chất của sự
việc, hơn nữa tài liệu này không hoàn toàn là căn cứ duy nhất buộc tội bị cáo. Do
đó, không có căn cứ để hủy bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong HĐXX đảm bảo tính khách quan và
thượng tôn pháp luật, đảm bảo tính minh bạch của vụ án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-- 10 of 15 --
11
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lương
Văn B nộp theo đúng các quy định của pháp luật, là hợp pháp, nên được chấp nhận
để xem xét.
[2] Về hành vi của bị cáo Lương Văn B:
Các bị cáo Lục Viết T1, Phạm Văn D1, Đặng Lai Q1 đều thừa nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị
cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo
Lương Văn B tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai ban đầu, bị cáo khai nhận
thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhưng sau đó bị cáo
thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo và luật sư bào chữa
cho bị cáo khẳng định bản chất của vụ việc là tranh chấp nợ dân sự phát sinh từ
hợp đồng kinh tế; việc anh L viết giấy cam kết và giấy bán xe là hoàn toàn tự
nguyện, không phải do bị cáo đe dọa. Xét thấy: theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án
(trong đó có lời khai nhận ban đầu của bị cáo B) và lời khai của các bị cáo T1, D1,
Q1 tại phiên toà đều xác nhận: Anh Linh phải viết bản cam kết nhận nợ và để lại
xe để làm tin theo yêu cầu của T1, B; phải viết giấy bán xe theo yêu cầu của B; anh
L do sợ 04 bị cáo đánh nên mới phải viết bản cam kết và giấy bán xe, bản thân anh
L không tự đề xuất và không tự viết.
Tại các bút lục từ 414-419, 424-426, 427-429 có nội dung bị cáo B trình bày:
“Mục đích của các bị cáo ngày 28/4/2024 khi gặp anh L ở quán cà phê là đòi bằng
được tiền của anh L. Do đó hôm đó 04 bị cáo đều yêu cầu anh L phải viết giấy
nhận nợ và phải để lại tài sản là xe ô tô BKS 19A-388.06 để làm tin, khi nào trả nợ
cho các bị cáo xong thì các bị cáo trả lại xe ô tô”. Quá trình nói chuyện, B trình
bày Bến có nói với anh L: “Tôi liên hệ ông không nghe, bảo ông về làm việc ông
không về, phải nhờ người gọi ông về. Giờ để ông đi về không để lại tài sản thì
không được”, B cũng thừa nhận: “Do bị 04 bị cáo ép nên anh Linh đã viết biên
bản cam kết và giấy bán xe ô tô, trong đó T1 là người đầu tiên đề nghị anh L viết
giấy cam kết, bị cáo là người yêu cầu anh L viết giấy bán xe. Bị cáo là người gọi
anh T3 đến nhờ định giá xe ô tô, các bị cáo yêu cầu anh L đến salon ô tô của anh
T3 để viết giấy bán xe, đến salon ô tô của anh T3 bị cáo là người lấy giấy bán xe
theo mẫu đưa cho anh L viết, sau đó anh L ký vào bên bán, B ký vào bên mua. Bị
cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, xin chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hành vi của mình”. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo B khẳng định
đây là lời khai của bị cáo, bị cáo đã khai báo hoàn toàn tự nguyện và khai đúng
diễn biến, hành vi sự việc. Đồng thời, bị cáo cũng xác định lời khai của anh L về
nội dung cuộc nói chuyện khi B và anh L gặp nhau là đúng, cụ thể: Bến có nói
“Giờ thế nào, tóm lại là giờ thích thế nào, tao hỏi mày thích thế nào thôi, tao hỏi
đúng câu thôi”. Bị cáo T1 thấy vậy có can ngăn và nói “thôi có gì bình tĩnh”. Anh
L2 cũng nói với B “anh em làm việc đàng hoàng, không làm việc được thì đừng có
thế chứ” thì B tiếp tục nói “Tóm lại mày thích thế nào, không nói nhiều, thích tao
-- 11 of 15 --
12
cho mày làm luôn. Tao bảo mày thế nào, mà mày như thế nào”. Đồng thời lúc này
B có điện thoại gọi đến, anh L2 nghe thấy B nói với người ở đầu dây bên kia
“Cháu đang ở chung cư sinh viên rồi nhé…đây nó ngồi đây rồi, cháu ngồi đây rồi,
để xem hôm nay để xem nó bảo đúng cái gì để cho nó làm cái đấy, cháu đang đây
rồi”. Anh L2 nói với B “Đây anh em làm việc nó đàng hoàng, hàng hoá máy móc
chuyển về đầy đủ”, B tiếp tục nói “Bây giờ tóm lại hàng hoá tao vẫn nguyên mẹ
mày tao chưa dùng gì cả. Hôm nay tao đấu với mày luôn để xem mày gọi ai thì
mày gọi, nay gọi ai thì gọi luôn đi cũng được”. Anh L2 nói “Không phải gọi ai cả,
cứ làm việc đi đã”, B nói “Mẹ mày mang cái máy cũ về cho tao xong bây giờ mày
quay lại làm trò với tao à. Chúng mày kết hợp chúng mày đi lừa, lừa đâu thì được
chứ lừa ở cái Bắc Giang này hơi nhầm. Địt mẹ mày loanh quanh chứ tao một nhà
sơn”. Anh L2 nói “Thực tế mà không làm được chứ có phải không cấp hàng ở đấy
đâu. Máy thì đang ở đấy bán láo cũng được bảy tám triệu”, B tiếp tục nói “tao đéo
phải bán láo cái gì cả, tao xác định bán sắt vụn, nói thế cho nhanh”. Căn cứ nội
dung cuộc đối thoại giữa bị cáo B và anh L2, xét về tương quan lực lượng giữa anh
L2 và nhóm bị cáo, có căn cứ xác định anh L2 sợ bị nhóm 04 bị cáo B, T1, D1, Q1
đánh hoặc đe doạ hoặc bị uy hiếp tinh thần dẫn đến phải thực hiện theo yêu cầu
của các bị cáo. Hành vi của B và các bị cáo khác đã thỏa mãn mặt khách quan của
tội Cưỡng đoạt tài sản.
Lương Văn B, Lục Viết T1, Đặng Lai Q1, Phạm Văn D1 đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Các bị cáo thực hiện
hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến
quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang
mang, lo sợ cho bị hại, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.
Do đó, hành vi của bị cáo Lương Văn B và các bị cáo khác đã thỏa mãn các
yếu tố cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản. Bởi các lẽ trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
bị cáo Lương Văn B về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3
Điều 170. Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Luật sư bào chữa cho bị cáo B cho rằng có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối
với Nguyễn Văn L, bỏ lọt hành vi của ông Hà Trọng H2; Điều tra viên lập khống
người chứng kiến Trần Minh C; số tiền 20.000.000đ của bị cáo B bị thất lạc khi
công an quản lý vật chứng là không có cơ sở, bởi lẽ:
+ Thứ nhất, Đối với ý kiến của Luật sư cho rằng bỏ lọt hành vi của L, tuy
nhiên hành vi này bị cáo đã có đơn gửi cơ quan điều tra để xem xét, giải quyết
bằng vụ án khác. Do vậy, HĐXX không xem xét trong vụ án này. Đối với ý kiến
của luật sư cho rằng bỏ lọt hành vi của ông Hà Trọng H2, HĐXX thấy không có
căn cứ để xử lý như ý kiến đối đáp của Viện kiểm sát.
+ Thứ hai, tại Bản án số 224/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân
dân thành phố Bắc Giang đã xét xử đối với Trần Minh C về hành vi “Trộm cắp tài
-- 12 of 15 --
13
sản”. Theo nội dung bản án thì ngày 22/8/2024 Trần Minh C đầu thú về hành vi
trộm cắp tài sản và bị tạm giữ. Trần Minh C sinh năm 2004, đăng ký hộ khẩu
thường trú tại thôn C, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, thời điểm ra đầu thú, C cư trú
tại số nhà C, ngõ A đường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, xác nhận
người chứng kiến Trần Minh C là có thật; thời điểm ký vào biên bản tiếp nhận
người phạm tội ra đầu thú, C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã ký
vào từng trang văn bản và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi chứng
kiến, ký chứng kiến của mình.
+ Thứ ba, Căn cứ biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú lập ngày
22/8/2024, bị cáo B khai “bị cáo giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 (một) điện
thoại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc xe ô tô
Huyndai Accent, màu trắng, BKS 19A-388.06, đã qua sử dụng”; tại biên bản hỏi
cung Lương Văn Bến ngày 26/8/2025 tại bút lục số 463-465 có trong hồ sơ vụ án
(có sự tham gia của người bào chữa ông Phạm Tiến Q) bị cáo B trình bày “bị B2
đang bị Cơ quan điều tra tạm giữ 01(một) chiếc điện thoại di động và 01 (một) xe
ô tô mà anh L đặt làm tin, ngoài ra không bị tạm giữ gì khác”. Trong suốt quá
trình điều tra, truy tố và trước khi vụ án được đưa ra xét xử ngày 04/12/2025 bị cáo
B không có ý kiến gì trình bày về nội dung này. Do đó, lời khai của bị cáo B tại
phiên toà trình bày trong xe ô tô khi bị cáo giao nộp cho Cơ quan điều tra có số
tiền 20.000.000 đồng là không có căn cứ.
[4] Xét vị trí, vai trò của bị cáo Lương Văn B trong vụ án:
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công
nhiệm vụ từ trước hay câu kết chặt chẽ; các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý
và thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó: Bị cáo Bến giữ vai trò chính
vì đã có lời nói đe dọa, uy hiếp tinh thần, ép buộc anh L phải nhận nợ, trả tiền, để
lại xe để làm tin và viết giấy bán xe, bị cáo cũng là người trực tiếp chiếm giữ chiếc
xe của anh L.
[5] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo Lương Văn B:
Bị cáo Lương Văn B có nhân thân xấu, ngày 10/11/2011 bị Tòa án nhân dân
thành phố Bắc Giang xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12
tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xoá án tích; ngày 24/11/2021 bị Toà án nhân dân
tỉnh Bắc Giang xử phạt 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng
về tội “Đánh bạc”, đã được xoá án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử
ở cấp sơ thẩm bị cáo không nhận tội. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm bị cáo thừa nhận
có hành vi như bản án sơ thẩm đã mô tả nhưng bị cáo cho rằng đó không phải là tội
-- 13 of 15 --
14
phạm. Xét thấy đây là do nhận thức pháp luật của bị cáo chưa đầy đủ nên cần áp
dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 BLHS. Ngoài ra bị cáo đầu thú, tự nguyện giao nộp lại chiếc xe ô tô nên được
áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Về hình phạt đối với bị cáo Lương Văn B:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, do đó cần có hình phạt
nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức
răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng
hình cũng cần xem xét đến nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do
bị hại không trả tiền cho bị cáo; nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, đang
nuôi con nhỏ và bị xử phạt tù giam, khó có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung,
nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì
mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử thấy không
có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, tuy nhiên cần sửa án sơ
thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lương Văn B
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Lương Văn B.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Sửa
bản án hình sự sơ thẩm số 258/2025/HSST ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 - tỉnh Bắc Ninh về phần điều luật áp dụng và hình phạt.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;