CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcVào ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Điều 39. ; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; - Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc T đối
với bị đơn - ông Nguyễn Quốc  về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Â. - Về con chung: Buộc ông Nguyễn Quốc  giao cháu Nguyễn Nhật Hải P, sinh ngày 31/10/2024 cho bà Nguyễn Ngọc T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc T không yêu cầu ông Nguyễn Quốc  cấp dưỡng nuôi con. 3 Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết…”. Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo. Ngày 07/01/2026, ông  kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm với lý do ông  không nhận được thông báo về việc sẽ diễn ra phiên tòa ngày 20/11/2025 dẫn đến việc ông không thể đưa ra ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Ngày 03/4/2026, ông  trình bày nội dung kháng cáo, đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T, đề nghị giao trẻ Nguyễn Nhật Hải P cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa phúc thẩm: * Bị đơn - ông Nguyễn Quốc  trình bày: Ông  giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng ý ly hôn với bà T vì vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn. Khi vợ chồng cãi nhau, bà T đã tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột từ tháng 5/2025, để lại con cho ông  và gia đình nội nuôi từ khi con 06 tháng tuổi đến nay, bà T không hề chăm sóc con, không có chỗ ở và công việc ổn định. Còn ông  có chỗ ở ổn định, có việc làm, có thời gian chăm sóc chơi với con, cháu P được gia đình ông  nuôi dưỡng ổn định từ khi sinh ra đến nay, phát triển tốt. Do đó, đề nghị giao cháu P cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. * Nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc T trình bày: Bà T không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông Â, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, vì bà T hiện tại không có mối quan hệ nào khác, đã có nơi cư trú mới, bà T đi làm giờ hành chính 08 tiếng mỗi ngày nên vẫn chăm sóc được con, mức lương của bà T khoảng 09 triệu đồng/tháng đủ khả năng nuôi con. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, HĐXX và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. - Về thời hạn kháng cáo: Kháng cáo của ông  làm đúng thời hạn luật định. - Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy: + Về quan hệ hôn nhân: Các đương sự đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có biện pháp để hàn gắn đoàn tụ. Tại phiên tòa phúc thẩm ông  đồng ý ly hôn với bà T, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở. + Về việc nuôi con: Bà T và ông  có một con chung tên Nguyễn Nhật Hải P, sinh ngày 31/10/2024, hai bên đều có nguyện vọng được nuôi con. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thể hiện cháu P được ông  cùng gia đình nội 4 chăm sóc ổn định từ nhỏ đến nay, tình trạng sức khỏe, sinh hoạt đảm bảo. Kết quả xác minh cũng thể hiện bà T đã rời khỏi nơi cư trú khi cháu P mới hơn 05 tháng tuổi, thời gian dài không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Trong khi đó, ông  có việc làm, thu nhập ổn định, có nơi ở rõ ràng và đang trực tiếp thực hiện đầy đủ việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P. Căn cứ theo Án lệ số 54/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì hiện nay cháu P đã quen với môi trường sống, điều kiện sinh hoạt và sự chăm sóc của ông  cùng gia đình nội, việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của cháu. Để dảm bảo cho cháu được chăm sóc tốt nên giao cho ông  tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Â. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của ông Â, sửa bản án sơ thẩm, giao trẻ P cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng, ông  không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông  không phải chịu. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Quốc  làm trong thời hạn luật định. [2] Về nội dung: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Trích lục kết hôn số 532/TLKH-BS ngày 09/5/2025 do Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp và lời khai thống nhất của các đương sự thì bà T và ông  kết hôn hợp pháp. Theo lời khai của bà T thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không có sự đồng cảm, mỗi người có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn. Tại phiên tòa phúc thẩm ông  xác định vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ, đúng pháp luật. [2.2] Về việc nuôi con: Căn cứ Bản sao Giấy khai sinh số 533/GKS-BS ngày 09/5/2025 do Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp và lời khai thống nhất của các đương sự thì trẻ Nguyễn Nhật Hải P, sinh ngày 31/10/2024 là con của ông  và bà T. 5 Theo lời khai thửa nhận của bà T tại phiên tòa phúc thẩm thì vào tháng 5/2025 do mâu thuẫn với ông  nên bà T đã tự ý bỏ về nhà cha mẹ đẻ sinh sống cho đến nay chứ không phải bị gia đình chồng đuổi. Theo lời khai của bà T thì trước đây bà T làm bảo mẫu tại nhà cha mẹ ruột, hiện nay bà T đi làm công nhân tại Công ty V, mức lương khoảng 9triệu/tháng, phía gia đình ông P cản trở không cho bà T đến thăm con, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho lời trình bày của mình. Theo lời khai và tài liệu do ông  cung cấp thì trước đây ông làm việc tại Tổng công ty V1, hiện nay ông mới xin làm việc tại Công ty TNHH E, mức lương 5.000.000 đồng/tháng cộng thêm tiền thưởng. Theo kết quả xác minh ngày 18/9/2025 và ngày 06/5/2026 thể hiện trẻ Nguyễn Nhật Hải P hiện đang được ông  cùng cha mẹ ruột nuôi dưỡng, bé khỏe mạnh, linh hoạt, bám ba và nội. Bà nội chăm sóc từ khi sinh do lúc đó mẹ bé bị tiền sản giật và các bệnh khác nên sức khỏe yếu không đủ sức chăm con, ở cùng con đến khi bé 5 tháng tuổi thì bỏ đi, không rõ đi đâu. Gia đình có thực hiện chăm sóc y tế đầy đủ…Ông  luôn tạo điều kiện để mẹ ruột và gia đình bên ngoại thăm nuôi con, không có ý định thay đổi chỗ ở, không cản trở mẹ bé… Căn cứ theo lời khai của các đương sự tại phiên tòa và kết quả xác minh, nhận thấy chỉ vì mâu thuẫn vợ chồng bà T đã tự ý về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 5/2025 đến nay, để lại trẻ P mới hơn 06 tháng tuổi cho ông  nuôi dưỡng. Ông  đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P rất tốt, trẻ khỏe mạnh, linh hoạt, được chăm sóc y tế chích ngừa đầy đủ, ông  có việc làm thu nhập ổn định, có nơi ở cố định… đủ điều kiện để nuôi con. Theo Án lệ số 54/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, mặc dù tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi…” nhưng bà T đã không nuôi trẻ P từ khi trẻ P được 06 tháng tuổi. Hiện tại trẻ P đã quen với điều kiện, môi trường sống và được ông  nuôi dưỡng chăm sóc trong điều kiện tốt nhất, nếu giao cho bà T nuôi dưỡng sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của trẻ. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao trẻ P cho bà T nuôi dưỡng là không phù hợp, chưa xem xét đầy đủ đến quyền và lợi ích hợp pháp về mọi mặt của trẻ P. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm ông  mới cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hợp pháp của mình, nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nhưng không có lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, quyết định giao trẻ P cho ông  trực tiếp nuôi dưỡng, ông  tự nguyện không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét giải quyết. Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Â, sửa bản án sơ thẩm. [3] Về án phí: 6 [3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000 đồng. [3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, nên ông  không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H lại cho ông  số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung); Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83,
2
Người kháng cáo: Bị đơn - ông Nguyễn Quốc Â.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2025, Bản tự khai ngày 04/8/2025 và
quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quốc  tự nguyện yêu nhau,
cùng nhau đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75 do Ủy ban
nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành
phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 06/6/2024. Thời gian đầu chung sống với nhau rất
hạnh phúc, đến sau này cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm
trọng, cụ thể: bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, vợ
chồng không có sự đồng cảm, mỗi người có một cuộc sống riêng nên không ai
quan tâm đến cuộc sống của ai, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù bà đã
nhiều lần cố gắng để vợ chồng cùng nhau hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình
nhưng không có kết quả. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích
hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Â.
Về việc nuôi con: Bà và ông  có 01 con chung Nguyễn Nhật Hải P, sinh
ngày 31/10/2024. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P, không yêu cầu
ông  cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn - ông Nguyễn Quốc  vắng mặt tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 200/2025/HNGĐ-ST ngày
20/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết
định:
“…- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 84. , Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn - ông Nguyễn Quốc Â.
2. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 200/2025/HNGĐ-ST ngày
20/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh: - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Â. - Về việc nuôi con: Giao trẻ Nguyễn Nhật Hải P, sinh ngày 31/10/2024 cho ông Nguyễn Quốc  trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Quốc  về việc không yêu cầu bà Nguyễn Ngọc T cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 82, 83, 84, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai 7 thu số 0005676 ngày 25/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc  không phải chịu. H lại cho ông Nguyễn Quốc  số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002947 ngày 10/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND Tối cao; - VKSND Tối cao; - VKSND TP.HCM; - TAND Khu vực 16; Quách Thanh Bình - VKSND Khu vực 16; - THADS TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: TGĐ, hồ sơ (20).
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.