CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc- Trong Đơn khởi kiện ngày 24 tháng 01 năm 2026 và trong quá trình tố tụng,
2
nên không ai phải nuôi; con Vũ Hải B còn nhỏ đang ở với anh nên anh đề nghị được
nuôi cháu; không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị N trình bày: Thống nhất
với trình bày của anh T về thời điểm vợ chồng kết hôn và con chung; thống nhất
nguyên nhân mẫu thuẫn vợ chồng và thời điểm ly thân nhau. Nay anh T xin ly hôn,
chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng chỉ đồng ý ly hôn khi hai bên đã
thống nhất được việc giải quyết tài sản chung. Đối với nuôi con chung: Con chung
Vũ Minh P đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không ai phải nuôi; con Vũ
Hải B đang ở với anh T nên chị đồng ý để anh T nuôi con theo nguyện vọng được ở
với bố của cháu B; chị N không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung. Về tài sản chung, chị N không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này và
cho anh T cơ hội để đưa ra giá, nếu không đưa được thì sẽ mời đơn vị định giá độc
lập để định giá.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như
sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của pháp
luật; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Điều 51, khoản 1 Điều
56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử: Cho ly hôn
giữa anh Vũ Duy T và chị Nguyễn Thị Thanh N; giao con chung Vũ Hải B cho anh
T nuôi; nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về thẩm quyền: Theo điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì nơi bị đơn
cư trú thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.