CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctòa số 352/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
2
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà X
yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà X đồng ý giao hai người con chung cho ông Đ trực tiếp
nuôi dưỡng, bà X không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà X xác định không có nên không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
* Phần trình bày của của bị đơn theo bản tự khai và tại phiên hòa giải:
Ông Đ và bà X ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều
mâu thuẫn dẫn đến không còn tiếng nói chung, thời gian về sau không còn sống
chung với nhau. Ông còn thương vợ con nên không muốn ly hôn với bà X, mong
Tòa án cho ông và bà X có thời gian hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng chăm lo
con cái.
Về con chung: Ông và bà X có hai người con chung Lương Hải Y (nữ), sinh
ngày 05/12/2011 và Lương Đăng K (nam), sinh ngày 01/01/2018. Nếu Tòa giải
quyết cho ông và bà X ly hôn với nhau thì ông đồng ý trực tiếp nuôi hai người con
chung. Ông không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về phía ông Lương Tấn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét
xử nhưng ông không đến Tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt
bị đơn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị Mỹ X và ông Lương Tấn Đ có đăng ký kết hôn
nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh và
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Lương Tấn Đ có địa chỉ cư
trú tại ấp T, xã C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lương Tấn Đ vắng mặt không rõ lý do dù được Tòa án triệu tập
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.