CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số 87/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
Điều 39. của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt,
riêng anh K vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt anh K và chị N theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2]. Về hôn nhân: Chị N và anh K tự nguyện chung sống vào năm 2017 và đến năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (cũ) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 50, ngày 10 tháng 7 năm 2019 nên hôn nhân giữa chị N và anh K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. [3]. Chị N xác định trong thời gian chung sống, chị N và anh K có phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, từ đó không ai quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, hiện chị N và anh K đã không còn sống chung với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa chị N và anh K không còn hạnh phúc, bởi chị N xác định không còn tình cảm với anh K, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N và anh K đã ly thân hơn một năm nay. Điều này phù hợp lời khai trưởng ấp G, xã H là anh K và chị N không còn sống chung, anh K hiện nay vẫn ở tại địa phương. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh K là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh K. [4]. Về con chung: Chị N sống với nhau có một người con chung là cháu Phan Văn H, sinh ngày 14/02/2018, hiện nay cháu H đang sống cùng chị N. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải xem xét toàn diện về điều kiện vật chất và tinh thần đảm bảo cho sự phát triển của con chưa thành niên. Quá trình thụ lý, anh K không có đặt ra tranh chấp về việc nuôi con. Để đảm bảo việc ăn ở, sinh hoạt hiện tại của cháu Hậu C tiếp tục giao cháu H cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dạy. Điều này phù hợp với nguyện vọng của H. Về cấp dưỡng: Do chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. 3 [5]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có tài sản chung và không nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [6]. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị N phải chịu 300.000 đồng, chị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001175 ngày 28 tháng 01 năm 2026 được chuyển thu án phí. [7]. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147. , điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
lời khai nhưng anh K không có nhà.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu việc
tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với
anh K. Về con chung: Giao cháu Phan Văn H, sinh ngày 14/02/2018 cho chị N tiếp tục nuôi
dạy. Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trợ. Về cấp
dưỡng nuôi con: Do chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem
xét; Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 29 tháng 11 năm 2025, chị Lê Thị Cẩm N nộp đơn khởi
kiện trực tiếp cho Tòa án yêu cầu ly hôn đối với anh Phan Văn K, cư trú ấp G, xã H, tỉnh Cà
Mau. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng
thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 51. , 53, 56, 57, 81, 82, 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều
24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị Cẩm N đối với
anh Phan Văn K.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Văn H, sinh ngày 14/02/2018 cho chị N tiếp tục
chăm sóc, nuôi dạy, giáo dục. Hiện cháu H đang sống cùng chị N. Anh Phan Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị N phải chịu 300.000 đồng,
chị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001175 ngày 28 tháng 01 năm 2026 được chuyển thu án phí. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã Hưng Hội, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thụy Lan Chi
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.