Mục lục - 15 điều ▼
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Điều 2. Hiệu lực thi hành 1. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2026. 2. Quyết định số 18/2022/QĐ-UBND ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau ban hành Quy chế hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành.
Điều 3. Tổ chức thực hiện 1. Sở Y tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này. 2. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh hoặc vướng mắc, đề nghị phản ánh về Sở Y tế để tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Y tế, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường và các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH (Đã ký) Nguyễn Minh Luân ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ------- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- QUY CHẾ Hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh Cà Mau (Ban hành kèm theo Quyết định số 066/2025/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 1. Phạm vi điều chỉnh Quy chế này quy định nguyên tắc, trình tự phối hợp và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trên địa bàn tỉnh Cà Mau. 2. Đối tượng áp dụng Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã (cán bộ phụ trách trẻ em), cơ quan Công an, Y tế, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường (gọi chung là cấp xã) và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Giải thích từ ngữ 1. Bảo mật thông tin: mọi thông tin, thông báo, tố giác về việc trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trong quá trình tiếp nhận, xác minh phải được bảo mật vì sự an toàn của người cung cấp thông tin và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em có liên quan trừ trường hợp cung cấp thông tin cho cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, can thiệp, xử lý các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục. 2. Hỗ trợ, can thiệp: là các hoạt động nhằm ngăn chặn, loại bỏ các nguy cơ tái bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục trẻ em; phục hồi về thể chất, tâm lý, giao tiếp xã hội; tái hòa nhập gia đình, cộng đồng, trường học cho trẻ em là nạn nhân của bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục. 3. Can thiệp trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp: là trẻ em bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em chính là người gây tổn hại cho trẻ em.
Chương I QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Nguyên tắc hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục 1. Việc thực hiện các bước trong quy trình hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục phải đảm bảo tính kịp thời, nhanh chóng, phù hợp, tuân thủ quy định của pháp luật và vì quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ em. 2. Phối hợp liên ngành là yếu tố quan trọng đảm bảo việc hỗ trợ, can thiệp hiệu quả đối với các trường hợp trẻ em bị xâm hại. Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với cán bộ các ngành có liên quan thu thập số liệu, đánh giá, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp. Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã là đầu mối cung cấp, chia sẻ thông tin cho cán bộ các ngành có liên quan; trong quá trình thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp, cán bộ các ngành có liên quan chỉ liên hệ với người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã để đảm bảo sự thống nhất trong điều phối. 3. Mọi thông tin, thông báo, tố giác trong quá trình tiếp nhận, xác minh phải được bảo mật vì lợi ích, sự an toàn của người cung cấp thông tin và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em có liên quan. Quá trình cung cấp, trao đổi thông tin phục vụ cho việc bảo vệ trẻ em giữa nơi tiếp nhận thông tin và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, chức năng bảo vệ trẻ em được bảo mật.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 4. Nội dung phối hợp Phối hợp hỗ trợ, can thiệp đối với các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục, gồm: 1. Tiếp nhận và phối hợp xử lý thông tin. 2. Đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em và trưng cầu giám định thu thập bằng chứng để xử lý đối tượng có hành vi xâm hại trẻ em; thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn tạm thời cho trẻ em trong trường hợp khẩn cấp. 3. Xác định nhu cầu cần hỗ trợ, can thiệp của trẻ em. 4. Xây dựng, phê duyệt kế hoạch hỗ trợ, can thiệp. 5. Thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp. 6. Rà soát, đánh giá sau khi thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 5. Tiếp nhận thông tin 1. Nơi tiếp nhận thông tin: các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân nếu phát hiện hoặc có thông tin về hành vi xâm hại trẻ em có trách nhiệm thông báo ngay (trực tiếp hoặc qua điện thoại hoặc bằng các hình thức khác) cho một trong những cơ quan sau đây: a) Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em (Tổng đài 111). b) Cơ quan Y tế cấp tỉnh và cấp xã. c) Cơ quan Công an tỉnh và Công an xã. d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc. 2. Người tiếp nhận thông tin có trách nhiệm ghi chép đầy đủ thông tin về hành vi xâm hại và các yếu tố nguy cơ đối với trẻ theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 6. Phối hợp xử lý thông tin 1. Nơi đã tiếp nhận thông tin về trường hợp trẻ em bị xâm hại có trách nhiệm chuyển ngay thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc để thực hiện các bước tiếp theo của quy trình. 2. Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, chỉ đạo người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để kiểm tra, xác minh lại tính trung thực của các thông tin đã được tiếp nhận bằng cách gọi điện thoại hoặc trực tiếp đến địa bàn nơi xảy ra vụ việc, nơi trẻ em đang ở; đánh giá thực trạng vụ việc, nguy cơ mất an toàn và mức độ gây tổn hại đối với trẻ em để có các biện pháp can thiệp kịp thời; hướng dẫn trẻ em và gia đình cách lưu giữ chứng cứ để phục vụ công tác điều tra. Trong quá trình làm việc với trẻ em (khi thu thập lời khai, chứng cứ) phải đảm bảo sự có mặt của người giám hộ của trẻ em, ưu tiên điều tra viên nữ, cán bộ điều tra nữ (đối với nạn nhân là trẻ em gái) hoặc luật sư bảo vệ quyền lợi cho trẻ em. Đối với trường hợp trẻ em bị chính cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục, thì người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an và các đơn vị có liên quan hướng dẫn người phát hiện vụ việc cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng để phục vụ công tác điều tra.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 7. Báo cáo kết quả xử lý thông tin Trong vòng 02 giờ kể từ thời điểm nhận thông tin vụ việc, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phải báo cáo kết quả kiểm tra, xử lý tính xác thực của thông tin cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Trưởng nhóm thường trực Bảo vệ trẻ em cấp xã; đồng thời, báo cáo nhanh về Ban Chỉ đạo Bảo vệ trẻ em cấp xã để phối hợp và triển khai các biện pháp hỗ trợ, can thiệp theo quy định.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 8. Đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em và trưng cầu giám định thu thập bằng chứng để xử lý đối tượng có hành vi xâm hại trẻ em 1. Đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em Ngay khi có kết quả xác thực về vụ việc, các cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây có trách nhiệm: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc chỉ đạo người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với cán bộ y tế và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tiến hành việc đánh giá nguy cơ ban đầu, mức độ tổn hại của trẻ em theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP để có cơ sở áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp can thiệp khẩn cấp hoặc tạm thời cách ly trẻ em khỏi môi trường hoặc người gây tổn hại cho trẻ em và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong vòng 08 giờ kể từ khi có kết quả xác thực về vụ việc. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp “Giấy giới thiệu trẻ em” đến cơ sở y tế để được khám, điều trị khẩn cấp và thông báo ngay nội dung vụ việc đến Công an xã để nắm thông tin và kịp thời can thiệp, xử lý. b) Cơ sở y tế có trách nhiệm tiếp nhận khám, điều trị khẩn cấp cho trẻ em; cử nhân viên công tác xã hội của bệnh viện thực hiện tư vấn, tham vấn cho trẻ em và gia đình trẻ ổn định tâm lý. Trong vòng 02 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận nạn nhân, cơ sở y tế cung cấp thông tin kết quả khám, chẩn đoán ban đầu cho Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi cấp Giấy giới thiệu); trường hợp trẻ em có dấu hiệu bị bạo lực, xâm hại tình dục thì cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo và gửi ngay hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi cấp Giấy giới thiệu). c) Trong vòng 08 giờ kể từ thời điểm nhận thông báo và hồ sơ của cơ sở y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã gửi kiến nghị khởi tố bằng văn bản kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan đến cơ quan Công an xã. Không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận kiến nghị khởi tố bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân cấp xã, cơ quan Công an xã tổng hợp báo cáo và hồ sơ liên quan gửi cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm theo quy định. 2. Trưng cầu giám định thu thập bằng chứng để xử lý đối tượng có hành vi xâm hại trẻ em theo quy định. Sau khi nhận kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan, các cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm: a) Trong vòng 02 ngày kể từ thời điểm nhận kiến nghị khởi tố, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra quyết định trưng cầu giám định; cử người đưa trẻ em đi giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho cơ quan giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. b) Trong thời hạn 03-05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định, cơ quan giám định phải ra kết luận giám định. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định thì cơ quan giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và gửi cho cơ quan trưng cầu giám định. c) Trong vòng 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, cơ quan giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu. d) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. đ) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu giám định phải thông báo kết luận giám định cho bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan (người kiến nghị khởi tố, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại). 3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiếp tục thực hiện các bước thuộc quy trình tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật. Sau khi có kết quả xử lý vụ việc phải thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã biết.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 9. Thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn tạm thời cho trẻ em trong trường hợp đặc biệt 1. Các biện pháp can thiệp khẩn cấp được thực hiện trong thời gian nhanh nhất và không quá 12 giờ kể từ thời điểm nhận được thông tin đối với các trường hợp trẻ em đang bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em chính là người gây tổn hại cho trẻ em. 2. Trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân thực hiện biện pháp can thiệp khẩn cấp. a) Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã: tiếp nhận thông tin, kết nối với cơ quan Công an, cơ sở Y tế để ngăn chặn hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em; thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho trẻ em; tiếp tục phối hợp với thành viên Ban Bảo vệ trẻ em cấp xã và các tổ chức, cá nhân liên quan đánh giá mức độ tổn hại và mức độ an toàn của trẻ em, xây dựng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt và triển khai thực hiện. b) Cơ quan Công an có trách nhiệm: tiếp nhận thông tin, triển khai việc ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em; phối hợp với người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã nơi xảy ra vụ việc thực hiện tốt việc bảo vệ khẩn cấp cho trẻ em. c) Cơ sở y tế có trách nhiệm: ưu tiên tiếp nhận, khám, điều trị khẩn cấp cho trẻ em khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; lưu trữ hồ sơ của trẻ em theo quy định của pháp luật để hỗ trợ công tác điều tra, xử lý; đồng thời, cung cấp, trao đổi thông tin với người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã và Thường trực Ban Bảo vệ trẻ em cấp xã để đảm bảo công tác phối hợp đạt hiệu quả. 3. Tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và biện pháp chăm sóc thay thế được thực hiện trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm nhận được thông tin đối với các trường hợp: Trẻ em bị xâm hại bởi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em từ chối thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp; trẻ em bị xâm hại có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại bởi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em. 4. Trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong việc thực hiện biện pháp tạm thời cách ly hoặc chăm sóc thay thế. a) Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã là đầu mối, phối hợp với thành viên Ban Bảo vệ trẻ em cấp xã và các đơn vị liên quan để rà soát, xem xét và thống nhất đề nghị bằng văn bản về việc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc (nội dung buổi làm việc phải được ghi biên bản). Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra Quyết định tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em theo Mẫu số 07 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP; bố trí nơi tạm trú an toàn và áp dụng biện pháp chăm sóc thay thế trên cơ sở xem xét văn bản đề nghị của người làm công tác trẻ em cấp xã. b) Sau khi có quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trẻ em được bàn giao ngay cho Trung tâm bảo trợ xã hội trực thuộc Sở Y tế để được chăm sóc thay thế. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo các đơn vị có liên quan hoàn tất hồ sơ của trẻ được chăm sóc thay thế theo quy định. Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội trong thời gian tối đa không quá 03 tháng và được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật. c) Quyết định tạm thời cách ly trẻ em có hiệu lực kể từ ngày ký; được gửi đến cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện. Thời hạn tạm thời cách ly tối đa không quá 15 ngày, trừ trường hợp phải tiếp tục cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Khi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em được đánh giá bảo đảm điều kiện an toàn cho trẻ em theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hủy bỏ Quyết định tạm thời cách ly.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 10. Xác định nhu cầu cần hỗ trợ, can thiệp của trẻ em 1. Sau khi đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em bị xâm hại, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc thu thập thông tin, đánh giá toàn diện các vấn đề về thể chất, tinh thần, nhận thức, xã hội của trẻ và các yếu tố khác trong môi trường trẻ đang sống để xác định nguyện vọng của trẻ theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP. 2. Trường hợp trẻ em cần được áp dụng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì cuộc họp với Ban Bảo vệ trẻ em cấp xã, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em, đại diện ấp, khóm nơi trẻ em cư trú, sinh sống hoặc nơi xảy ra vụ việc và cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ (trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ là người có hành vi bạo lực, xâm hại tình dục trẻ) để xác định các biện pháp bảo vệ phù hợp với nhu cầu thực tế của trẻ em.
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC
Điều 11. Xây dựng, phê duyệt kế hoạch hỗ trợ, can thiệp 1. Căn cứ kết quả thu thập thông tin, đánh giá nguy cơ cụ thể theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP bản cuộc họp xác định các biện pháp bảo vệ trẻ em. Trong thời hạn 03 ngày, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với thành viên Ban bảo vệ trẻ em cấp xã và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan xây dựng và thống nhất nội dung kế hoạch hỗ trợ, can thiệp theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, phê duyệt. 2. Hồ sơ trình đề nghị xem xét, phê duyệt kế hoạch hỗ trợ, can thiệp thực hiện theo nội dung, biểu mẫu quy định tại Nghị định số 56/2017/NĐ-CP, bao gồm: a) Báo cáo tiếp nhận thông tin trẻ em thực hiện theo Mẫu số 01. b) Đánh giá nguy cơ ban đầu, thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho trẻ em thực hiện theo Mẫu số 02. c) Báo cáo thu thập thông tin, xác minh và đánh giá nguy cơ cụ thể thực hiện theo Mẫu số 03. d) Biên bản cuộc họp xác định và thống nhất các biện pháp hỗ trợ, can thiệp theo khoản 2
Chương II NỘI DUNG PHỐI HỢP HỖ TRỢ, CAN THIỆP, XỬ LÝ ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG HỢP TRẺ EM BỊ BẠO LỰC, XÂM HẠI, XÂM HẠI TÌNH DỤC