CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc11/2016/TLST-DS ngày 11 tháng 05 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng
Sách, Hải Dương. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1951; Địa chỉ: An Điền, Cộng Hòa, Nam
Sách, Hải Dương. Có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, biên bản hòa
giải nguyên đơn ông Hoàng Đức C, bà Nguyễn Thị T và người đại diện theo ủy
quyền của ông C trình bày:
Ngày 01/01/2014 (tức ngày 01/12/2013 âm lịch) vợ chồng bà cho vợ
chồng bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Hoài S vay số tiền 50.000.000đ, tiếp đến
ngày 25/12/2014 ông bà lại cho vợ chồng bà L, ông S vay số tiền là
40.000.000đ, tổng hai lần vay bằng 90.000.000đ, không tính lãi, không thỏa
thuận thời hạn trả chỉ nói khi nào cần tiền thì báo trước. Bà L là người trực tiếp
hỏi vay và ông bà giao tiền cho bà L, bà L đã viết giấy biên nhận. Do khi vay
tiền bà L nói là vay để làm vốn kinh doanh nên ông bà xác định đó là khoản vay
chung của vợ chồng bà L, ông S. Sau khi cho bà L, ông S vay tiền thì ông bà có
mua cám chăn nuôi của bà L, ông S với tổng số tiền là 17.460.000đ. Đối trừ vào
số tiền ông bà cho bà L, ông S vay thì còn lại 72.540.000đ bà L, ông S chưa trả.
Ông bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà L, ông S không trả. Đến nay ông S, bà L
cho rằng số tiền 72.540.000đ hai bên đã thỏa thuận đối trừ vào số tiền ông S, bà
L trả cho khoản vay tại Ngân hàng của vợ chồng con gái ông bà là chị Hoàng
Thị H, anh Nguyễn Đồng M là không đúng. Nay ông bà yêu cầu bà L, ông S
phải trả lại cho ông bà số tiền gốc là 72.540.000đ, không yêu cầu lãi.
Theo bản tường trình, biên bản ghi khai, biên bản hòa giải bị đơn bà
Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Hoài S trình bày:
Ông bà kinh doanh cám chăn nuôi nên vợ chồng ông C, bà T thường mua
cám của vợ chồng bà. Ngày 01/12/2013 (âm lịch) và ngày 25/12/2014 dương lịch
bà T sang nhà nói với bà cho đặt tiền trước để mua cám theo giá ưu đãi của công
ty, bà đồng ý. Bà T đưa tiền cho bà 2 lần, một lần là 50.000.000đ, 1 lần là
40.000.000đ, tổng bằng 90.000.000đ. Sau khi bà T đưa tiền thì yêu cầu bà viết
giấy vay tiền nên bà đã viết hai giấy vay tiền như bà T đã cung cấp cho Tòa án.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.