CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số 380/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 giữa các đương
28/4/2016.
2
Khoảng thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc. Nhưng khoảng thời
gian sau, bà và ông T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hợp
nhau, luôn bất đồng về quan điểm sống, nhiều lần cãi nhau về vấn đề nơi ở sinh
sống học tập cùng nhau, ông T mong muốn học tập và làm việc ở đất nước
Canada, bà N thì mong muốn làm việc và sinh sống tại Việt Nam, do khoảng
cách địa lý xa xôi khiến cho tình cảm của ông bà ngày càng mờ nhạt, không còn
cảm xúc về sự yêu thương trong hôn nhân. Không có tiếng nói chung trong gia
đình, kinh tế cũng riêng biệt, dần dần ông bà hạn chế liên lạc với nhau. Bà vào
ông T đã nhiều lần tạo cơ hội cho nhau để hai bên thay đổi và hòa hợp nhưng
đều không thành. Đến nay mâu thuẫn giữa hai bên xảy ra ngày càng trầm trọng,
ông bà đã sống ly thân nhiều năm. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn nên bà
yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn - ông Lê Hoàng T trình bày: Ông và bà Mai Vũ Xuân N có chung
sống và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 33/Q1 ngày 28/4/2016
tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kết hôn
ông bà tự nguyện tìm hiểu không bị lừa dối ép buộc. Khoảng thời gian đầu ông
bà sống hạnh phúc, nhưng sau đó do bất đồng quan điểm sống, khoảng cách đại
lý xa xôi làm cho tình cảm của ông bà cạn dần, không còn tình cảm với nhau
nữa. Nay bà Mai Vũ Xuân N yêu cầu ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, bà Mai Vũ Xuân N vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Tòa án
giải quyết cho bà ly hôn với ông Lê Hoàng T vì vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, tình
cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục. Con
chung, tài sản chung, nợ chung hai bên khai không có.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.