CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc189/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “ly hôn, yêu cầu nuôi
cưới và ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh K theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 87 quyển số: 01 ngày 08/8/2006. Sau khi kết hôn, vợ
chồng bà sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và ông
T thường xuyên ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho
cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay, bà B không muốn sống chung với
ông T nữa vì bà B không còn tình cảm với ông T nên bà B quyết định ly hôn với
ông T.
Quá trình sống chung với ông T, bà B và ông T có hai người con chung tên
Trần Trí T1, sinh ngày 06/8/2008 và Trần Trí T2, sinh ngày 10/6/2013. Về tài sản
chung bà B và ông T tự thỏa thuận nên bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ
chung không có nên bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà B yêu cầu về hôn nhân cho bà được ly hôn với ông Trần
Văn T. Về con chung bà yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung
tên Trần Trí T1, sinh ngày 06/8/2008 và Trần Trí T2, sinh ngày 10/6/2013. Bà B
không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung bà B và ông T tự thỏa
thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có nên bà B không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai cũng như tại phiên hòa giải ngày 30/12/2025 bị đơn ông
Trần Văn T trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà B về ngày tháng
năm kết hôn, về con chung, tài sản chung, về nợ chung cũng như mâu thuẫn vợ
chồng nhưng ông T không đồng ý ly hôn vì ông T cho rằng mâu thuẫn không lớn.
Về con chung thì con ở với ai thì người đó nuôi, không bên nào cấp dưỡng cho bên
nào. Về tài sản chung ông và bà Bích tự thỏa thuận nên ông không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nợ chung không có nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
3
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng
thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng;
việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố
tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.