CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 19 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, thường xảy ra cự cãi, bất hòa.
Anh T không chăm lo cho gia đình, vợ con, còn tham gia cờ bạc, chửi mắng và
hay đe dọa chị. Anh chị đã cố gắng tạo nhiều cơ hội cho nhau hàn gắn tình cảm
nhưng vẫn không có kết quả, anh chị đã ly thân khoảng 01 năm nay. Nay anh chị
không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống và xây dựng gia đình nên chị
xin ly hôn để mỗi người có cuộc sống riêng.
Về con chung: Có 01 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 10/10/2021,
đang sống với chị, con được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Khi ly hôn chị yêu cầu
được nuôi dưỡng con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị xác định không có, không phát sinh tranh chấp, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt, không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang có ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa
đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị D đã
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn anh T vắng mặt tại
phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị D được ly hôn với anh T; tiếp
tục giao con cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ
chung không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng nhưng anh T vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ
thẩm nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng
3
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.