CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcphiên tòa số 74/2026/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
2
Lần 1: Ngày 26/11/2024, bà cho bà V vay số tiền là 30.000.000 đồng; lãi
suất là 3%/tháng; bà V nói là vay tiền để làm ăn; hai bên không thỏa thuận thời
hạn vay, khi nào bà V có tiền thì trả cho bà. Bà V có đóng lãi cho bà được vài
tháng (đóng không đầy đủ, bà không nhớ cụ thể) thì không đóng nữa, khi đóng
lãi các bên không lập thành văn bản gì. Số tiền gốc 30.000.000 đồng đến nay bà
V chưa trả cho bà.
Lần 2: Ngày 20/12/2024, bà cho bà V vay số tiền là 310.000.000 đồng; lãi
suất là 3%/tháng; bà V nói là vay tiền để làm ăn; hai bên không thỏa thuận thời
hạn vay, khi nào bà V có tiền thì trả cho bà. Bà V có đóng lãi cho bà được vài
tháng (đóng không đầy đủ, bà không nhớ cụ thể) thì không đóng nữa, khi đóng
lãi các bên không lập thành văn bản gì. Số tiền gốc 310.000.000 đồng đến nay
bà V chưa trả cho bà.
Lần 3: Ngày 16/02/2025, bà cho bà V vay số tiền là 30.000.000 đồng; lãi
suất là 3%/tháng; bà V nói là vay tiền để làm ăn; hai bên không thỏa thuận thời
hạn vay, khi nào bà V có tiền thì trả cho bà. Bà V không có đóng lãi cho bà. Số
tiền gốc 30.000.000 đồng đến nay bà V chưa trả cho bà.
Khi vay tiền, bà V có viết các Giấy không đề tựa đề ngày 26/11/2024, ngày
20/12/2024 và ngày 16/02/2025 (giấy tay, không có công chứng/chứng thực),
viết tại nhà bà và đưa cho bà giữ, bà đã cung cấp cho Tòa án.
Bà đã nhiều lần yêu cầu bà V trả các số tiền vay trên nhưng bà V luôn né
tránh và cố tình không trả cho bà.
Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà V có nghĩa vụ trả số tiền đã vay cho bà
tổng cộng là 370.000.000 đồng. Trước đây, bà có yêu cầu bà V trả tiền lãi kể từ
ngày 15/12/2025 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án với mức lãi suất
0,83%/tháng. Nhưng nay bà chỉ yêu cầu bà V trả tiền lãi kể từ ngày tiếp theo
ngày bà V nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện
sửa đổi, bổ sung của bà là ngày 05/3/2026 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày
19/5/2026 với mức lãi suất 0,83%/tháng. Bà không khởi kiện đối với chồng của
bà V do bà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.