CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số: 669/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026 giữa các
2
và ông Huỳnh Phước L1 có 01 (một) người con chung tên Huỳnh Như N, sinh
ngày 12/07/2012. Hiện con chung đang sống với bà N. Trong quá trình chung
sống, bà Phạm Thị Bé L và ông Huỳnh Phước L1 không có tài sản chung và nợ
chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Bé L yêu cầu ly hôn với ông
Huỳnh Phước L1; về con chung: Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và
không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung
không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Huỳnh Phước L1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã
tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông L1, nhưng ông
L1 không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông L1 để tham gia tố
tụng tại phiên hòa giải nhưng ông L1 vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản
về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn ông Huỳnh Phước L1 đã được
triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng
vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ
tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của
pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và
nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Huỳnh Phước L1 chưa chấp hành đúng
các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. ăn cứ vào các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên
tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Phạm Thị Bé L và ông Huỳnh Phước L1
đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của
bà L; về con chung giao cháu Huỳnh Như N, sinh ngày 12/07/2012 cho bà L đến
khi cháu N đủ 18 tuổi; ông L1 không cấp dưỡng cho con chung. Dành quyền,
nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông L1 mà không ai được cản trở. Về tài sản
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.