CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc- Theo khởi kiện đề ngày 27 tháng 01 năm 2026 và lời khai trong quá trình
sống chung một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã,
2
vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Hiện nay vợ
chồng không còn chung sống ly thân. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Đỗ Thị H yêu cầu được ly hôn
với ông Trần Minh T.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà Đỗ Thị H và ông Trần Minh T có
03 con chung là Trần Thị Cẩm T1, sinh ngày 07/04/2007; Trần Minh T2, sinh
ngày 24/04/2010 và Trần Hiền T3, sinh ngày 17/09/2019. Con chung Trần Thị
Cẩm T1, sinh ngày 07/4/2007 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, bà Đỗ Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con
chung là Trần Minh T2, sinh ngày 24/04/2010 và Trần Hiền T3, sinh ngày
17/09/2019. Bà Đỗ Thị H không yêu cầu ông Trần Minh T thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Minh T: Đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, nhưng
không đến Toà án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn cũng không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2026 Tòa án tiến hành xác minh tình
trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Đỗ Thị H và ông Trần Minh T
tại Hội nữ phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và được cung cấp thông tin như
sau: Bà Đỗ Thị H không phải là thành viên nữ phường. Trước khi khởi kiện ly
hôn tại Toà án, bà H cũng như ông T cũng không có yêu cầu địa phương tổ chức
hòa giải cơ sở; Hội hiệp cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu
phố cũng như người dân phản ánh. Vì vậy, Hội hiệp nữ phường T không rõ
nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy
định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân
thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng
mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.