Mục lục - 3 điều ▼
Điều 17. ; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
- Bị cáo Sơn Thị Thùy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số
tiền là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
-- 4 of 9 --
5
- Bị cáo Trần Văn T3 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự
nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền là
10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Hữu T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số
tiền là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Liêu Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự
nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền là
10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Lâm Thị Kim C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo
tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền
là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58. ; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lý T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo
tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền
là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với 04 bị cáo khác, về biện
pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của
pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, các bị cáo Sơn Thị Thùy T, Lý T1, Nguyễn
Hữu T2, Trần Văn T3, Liêu Thị H và Lâm Thị Kim C kháng cáo xin được
hưởng án treo.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không
cung cấp thêm chứng cứ nào mới.
Luật sư Đỗ Văn T8 bào chữa cho các bị cáo Sơn Thị Thùy T, Lý T1, Lâm
Thị Kim C trình bày:
Luật sư thống nhất với án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc”,
nhưng xin xem xét cho các bị cáo hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội ít nghiêm trọng, thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải. Đối với bị cáo Sơn Thị Thùy T: Hành vi của bị cáo là cho
mượn địa điểm để các bị cáo khác và những người có liên quan chơi đánh bài do
đây là thời điểm ngày Tết cổ truyền của dân tộc K, nhà bị cáo là nơi bán tạp hóa
có nhiều người thường xuyên đến chơi. Đối với bị cáo Lý T1: Bản thân bị cáo
lúc đầu cũng không đồng ý cho mượn nhà của mình để cho các bị cáo khác đánh
bài, nhưng vì con dâu của bị cáo là bị cáo T cũng ở cùng nhà nên bị cáo mới
đồng ý, bị cáo chỉ chưa có hành động quyết liệt để ngăn cản việc chơi bài, bị cáo
chấp nhận cho các bị cáo khác và người liên quan chơi bài tại nhà mình vì đây là
thời điểm Tết cổ truyền của dân tộc Khmer, bị cáo không trực tiếp nhận tiền xâu
do bị cáo T đưa, bị cáo không biết tiền bị cáo nhận được là tiền xâu. Đối với bị
cáo Lâm Thị Kim C: Bị cáo tham gia chơi đánh bài với số lượng rất ít, nhưng
cấp sơ thẩm xét xử hình sự đối với bị cáo vì bị cáo có nhân thân xấu.
-- 5 of 9 --
6
Án sơ thẩm xét xử bị cáo T 09 tháng tù, bị cáo T1 06 tháng tù, bị cáo C 06
tháng tù là quá nghiêm khắc. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ
ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, việc cho các bị
cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng răn đe đối với các bị cáo và
phòng ngừa chung cho xã hội.
Quan điểm của luật sư Trần Thúy Q bào chữa cho các bị cáo Nguyễn
Hữu T2 và Liêu Thị H trình bày:
Luật sư thống nhất với án sơ thẩm đã xét xử hai bị cáo T2 và H về tội
“Đánh bạc”. Các bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, có
nơi cư trú rõ ràng, bị cáo T2 đã tích cực nộp phạt bổ sung, bản thân bị cáo còn
đang nuôi 02 con nhỏ; đối với bị cáo H, tuy bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm
hành chính nhưng tính tới thời điểm xảy ra vụ án thì đã được xem là không còn
tiền sự, bị cáo còn là người dân tộc Khmer, nhận thức về pháp luật còn nhiều
hạn chế, bị cáo còn phải nuôi mẹ già. Ngoài những tình tiết đã nêu, đề nghị xem
xét thêm về điều kiện, hoàn cảnh của các bị cáo để cho các bị cáo được hưởng
án treo cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và cũng nhằm giảm gánh nặng cho
xã hội sau khi các bị cáo phải đi chấp hành án cũng như sau khi chấp hành án
xong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo Sơn Thị Thùy T, Lý T1, Nguyễn Hữu T2,
Trần Văn T3, Liêu Thị H, Lâm Thị Kim C đều kháng cáo trong hạn luật định
nên đủ điều kiện để cấp phúc thẩm xem xét.
Về nội dung:
Việc bị cáo Sơn Thị Thùy T sử dụng nhà của bị cáo Lý T1 để tổ chức cho
các bị cáo trong vụ án và một số người khác đánh bài ăn thua bằng tiền với tổng
số tiền là 6.670.000 đồng đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Cấp sơ thẩm áp dụng
khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự để xét xử các bị cáo là có căn cứ. Cấp sơ
thẩm đã xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo các điểm
i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sơn Thị Thùy T 09 tháng
tù, các bị cáo Lý T1, Nguyễn Hữu T2, Trần Văn T3, Liêu Thị H, Lâm Thị Kim
C 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Các
bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được những tình tiết mới hoặc những
tình tiết giảm nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa xem xét cho các bị cáo. Đề nghị cấp
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
-- 6 of 9 --
7
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo
trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong
hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Từ ngày 16 đến ngày 23/4/2025, bị cáo Sơn Thị Thùy T được bị cáo Lý
T1 thống nhất cho sử dụng nhà của bị cáo Lý T1 ở số E, ấp A, xã T, thành phố
Cần Thơ để tổ chức cho nhiều người đánh bài ăn thua bằng tiền để lấy tiền xâu.
Hình thức chơi bài là bài binh 6 lá.
Những người đến chơi bài gồm có các bị cáo Trần Văn T3, Nguyễn Hữu
T2, Liêu Thị H, Lâm Thị Kim C, Lý Thị Tiến A, Thạch Thị H1, Trần Quang S1
và một số người khác. Số tiền các bị cáo dùng chơi bài là 4.800.000 đồng và số
tiền thu được trên chiếu bạc là 1.870.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của các bị
cáo là 6.670.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã bị các cơ quan tiến hành thủ
tục xử lý theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1
Điều 321. Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sơn Thị Thùy T 09 tháng tù, các bị
cáo Lý T1, Trần Văn T3, Nguyễn Hữu T2, Liêu Thị H, Lâm Thị Kim C 06 tháng
tù. Xử phạt các bị cáo Lý Thị Tiến A, Thạch Thị H1, Trần Quang S1, Trần Thị
T9 06 tháng tù nhưng cho các bị cáo Tiến A, H1, Trần Quang S1 và Trần Thị T9
được hưởng án treo. Phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (trừ bị cáo Trần Thị
T9 do là người cao tuổi). Các bị cáo Lý Thị Tiến A, Thạch Thị H1, Trần Quang
S1, Trần Thị T9 thống nhất với án sơ thẩm nên không kháng cáo. Các bị cáo
Sơn Thị Thùy T, Lý T1, Trần Văn T3, Nguyễn Hữu T2, Liêu Thị H, Lâm Thị
Kim C kháng cáo xin được hưởng án treo.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo T, Lý T1, Trần Văn T3, Nguyễn Hữu
T2, Liêu Thị H, Lâm Thị Kim C cũng thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung
của án sơ thẩm.
Xét thấy việc bị cáo Sơn Thị Thùy T là con dâu của bị cáo Lý T1 đã thống
nhất cùng với bị cáo Lý T1 sử dụng nhà riêng để tổ chức cho các bị cáo trong vụ
án đánh bài ăn thua bằng tiền với tổng số tiền được xác định là 6.670.000 đồng
đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Mục đích của các bị cáo tham gia đánh bài là sát
phạt thắng thua với nhau bằng tiền. Riêng hai bị cáo Sơn Thị Thùy T và Lý T1
không đánh bài với các bị cáo khác nhưng lại sắp xếp, bố trí chỗ cho các bị cáo
khác đánh bài để thu tiền xâu.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến đời
sống văn minh ở địa phương.
Tuy các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, cấp sơ thẩm đã xem
xét cho các bị cáo hai tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,
các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đối với bị cáo
Sơn Thị Thùy T với vai trò chính đã cung cấp địa điểm, chuẩn bị các bộ bài là
công cụ phạm tội nên xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là tương xứng với mức
độ phạm tội của bị cáo. Các bị cáo Lý T1, Trần Văn T3, Liêu Thị H, Nguyễn
Hữu T2, Lâm Thị Kim C 06 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt tại
khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
-- 7 of 9 --
8
Các bị cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, hoặc tình tiết giảm
nhẹ nào mà cấp sơ thẩm chưa xem xét, áp dụng cho các bị cáo. Bào chữa cho
các bị cáo, các luật sư cũng chưa đưa ra được những cơ sở nào có thể áp dụng để
chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng
xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng
cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo và giữ y án sơ thẩm.
[4] Những phần khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Riêng bị cáo Liêu Thị H được miễn án phí
do là người dân tộc Khmer sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Sơn Thị Thùy T, Lý T1,
Nguyễn Hữu T2, Trần Văn T3, Liêu Thị H và Lâm Thị Kim C.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2026/HS-ST ngày 06/01/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
2. Tuyên bố: Các bị cáo Sơn Thị Thùy T, Lý T1, Nguyễn Hữu T2, Trần
Văn T3, Liêu Thị H và Lâm Thị Kim C phạm tội “Đánh bạc”.
3. Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Sơn Thị Thùy T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án phạt tù.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền là 10.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà
nước.
4. Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều
17; Điều 58; khoản 1 Điều 38 của Bộ lu