Mục lục - 4 điều ▼
Điều 12. Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội miễn án phí HSST cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống
tại nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo.
* Người bào chữa cho bị cáo Lầu A K không có ý kiến tranh luận về tội danh
và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên đã truy tố. Đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2
Điều 51. Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lầu A K, vì trong quá trình điều tra và tại
phiên tòa, mặc dù bị cáo không khai nhận diễn biến hành vi phạm tội nhưng đã thừa
nhận việc bị cáo là người đã gây thương tích cho bố mẹ bị cáo. Việc bị cáo không
khai nhận diễn biến hành vi do bị cáo bị bệnh Các rối loạn tâm thần và hành vi do
sử dụng các chất gây ảo giác nên ảnh hưởng đến việc khai báo của bị cáo; Bị cáo có
04 người con dưới 15 tuổi và gia đình thuộc hộ nghèo; tại phiên toà, bị hại xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của
Kiểm sát viên đề nghị. Người bào chữa nhất trí đối với việc đề nghị xử lý vật chứng
và án phí theo đề nghị của Kiểm sát viên.
Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên về đề nghị của người bào chữa cho bị
cáo: Kiểm sát viên không đồng ý đề nghị của người bào chữa đề nghị áp dụng tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo do bị cáo
bị bệnh Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác nên ảnh
hưởng đến việc khai báo của bị cáo. Bởi lẽ, tại bản Kết luận giám định pháp y tâm
thần số: 97/KLGĐ ngày 06/11/2025 của Phân viện pháp y tâm thần Bắc Miền Trung
đã kết luận tại các thời điểm trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị
cáo đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Đồng thời không có tài
-- 6 of 11 --
7
liệu nào thể hiện bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy
định từ điểm a đến điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị của
người bào chữa là không có căn cứ chấp nhận. Về mức hình phạt, việc xử lý vật
chứng và án phí người bào chữa đề nghị đã phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát
nên không tranh luận gì thêm.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, nhất
trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến gì thay đổi bổ
sung, bị cáo xin được miễn án phí, lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Lầu A K không khai nhận
về diễn biến hành vi phạm tội của mình. Bị cáo chỉ thừa nhận việc có đánh bố mẹ đẻ
của bị cáo là ông L N C và bà H T D do bị cáo không được tỉnh táo nhưng không có
mục đích tước đoạt mạng sống của ông C, bà D. Căn cứ lời khai của bị hại là ông L
N C, bà H T D và người làm chứng là anh L A C, chị G T N cùng các tài liệu chứng
cứ khác trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/7/2025, tại nhà ở của
gia đình ông L N C và bà H T D tại bản G P A, xã N N, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lầu
A K có hành vi dùng 01 chiếc cuốc cán bằng gỗ dài 90 cm, lưỡi cuốc bằng kim loại
dài 22cm, rộng 14cm gây thương tích cho bố mẹ đẻ của bị cáo là ông L N C với tổng
thương tích là 25% và bà H T D với tổng thương tích là 16%.
Quá trình Điều tra, do bị cáo không khai báo về diễn biến hành vi phạm tội
nên Cơ quan Cảnh sát điều tra C an tỉnh Điện Biên đã tiến hành xác minh tại địa
phương và trưng cầu giám định nội trú pháp y tâm thần đối với bị cáo. Tại bản Kết
luận giám định pháp y tâm thần số: 97/KLGĐ ngày 06/11/2025 kết luận: Tại tất cả
các thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi. Bên cạnh đó, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị
bệnh các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác, với Hội chứng
nghiện, hiện đang cai nhưng trong môi trường được bảo vệ, bệnh kèm theo Viêm
gan Virus B, nên không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ đối với hành
vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ.
Sau khi gây thương tích cho ông C, bà D, bị cáo K còn có hành vi cầm 01 con
dao quắm có tổng chiều dài 94,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm, mũi dao cong,
bản dao phần hẹp nhất 4cm, phần rộng nhất 6cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài
59,5cm đứng ở trước nhà nhưng chưa gây thương tích cho ai khác nên hành vi của bị
cáo không cấu thành tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn
toàn phù hợp với nội dung Cáo trạng và các bản kết luận giám định, các chứng cứ, tài
-- 7 of 11 --
8
liệu có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định
bị cáo Lầu A K đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 3
Điều 134. của Bộ luật hình sự.
Điều 134. Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một
trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng
gây nguy hại cho nhiều người;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng,
chữa bệnh cho mình;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm
đến 10 năm:
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các
trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Bản cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện
Biên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
[2] Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo Lầu A
K là người lười lao động, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bị