Mục lục - 3 điều ▼
Điều 51. Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành
niên: Xử phạt bị cáo Lò L1 V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị
cáo đi chấp hành án.
- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí
quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 15/3/2026 bị cáo Lò Lực V có đơn cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án
treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề
nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng hình sự:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo V, sửa Bản án sơ thẩm số
50/2026/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 -
Phú Thọ.
- Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51. ; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119; Điều 124
Luật Tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Lò L1 V 02 (H1) năm tù về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 02 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị nên không đề nghị xem xét.
Quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo tại phiên tòa
phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử xém xét nhân thân của bị cáo là khi phạm
-- 5 of 9 --
6
tội là người chưa thành niên, là người dân tộc hiểu biết pháp luật còn hạn chế,
hộ nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ để áp dụng thêm Điều 124 Luật Tư pháp
người chưa thành niên từ đó xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án
treo, cải tạo tại địa phương, tạo cơ hội cho bị cáo tiếp tục điều trị thương tích và
tu dưỡng rèn luyện có sự giúp đỡ của gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lò Lực V làm trong thời hạn luật định nên
được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/4/2025, Lò Lực V (tính đến thời điểm
phạm tội là 17 tuổi, 02 tháng 22 ngày) chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy
định, trong cơ thể có nồng độ cồn trong máu 171.4mg/100ml, điều khiển xe mô
tô BKS: 23AV- 070.62, dung tích 109.1cm3 đi trên tuyến đường thôn T đi thôn
V khi đi đến ngã tư giao nhau thuộc địa phận thôn T, xã B, tỉnh Phú Thọ. Do
không chú ý quan sát và không giảm tốc độ dẫn đến xe mô tô do V điều khiển
đã đâm vào sườn bên phải xe mô tô BKS: 88G1- 453.86 do anh Dương Hoàng L
(có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển chở sau là anh Dương Văn H.
Hậu quả: anh L bị tử vong, V bị tổn thương 79% sức khỏe, 02 phương tiện bị hư
hỏng nhẹ.
Hành vi của Lò Lực V đã vi phạm khoản 1 và khoản 2 Điều 9; điểm b và
điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.
Hành vi của Lò Lực V điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 109.1cm3
tham gia giao thông đường bộ khi trong cơ thể có nồng độ cồn và không có giấy
phép lái xe mô tô theo quy định; không chấp hành đúng các quy định về đảm
bảo an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn hậu quả làm chết 01 người, đã
phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy
định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử bị cáo theo quy định điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
của bị cáo Lò Lực V thì thấy:
Bản án sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự là: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối
-- 6 of 9 --
7
cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện bồi
thường cho gia đình bị hại số tiền là 150.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của
gia đình bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo là người
dân tộc ít người (D), hiểu biết pháp luật hạn chế; khi phạm tội là người chưa
thành niên (mới 17 tuổi 02 tháng) nên được áp dụng các quy định tại Điều 12;
Điều 119. của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Trong vụ án, bị cáo Lò
Lực V cũng bị thương được xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của tại
thời điểm giám định là: 79% (Bảy mươi chín phần trăm). Ngoài ra, bị hại (anh
L) có một phần lỗi khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông cũng vi phạm
Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, làm chủ tốc độ
dẫn đến tai nạn. Do vậy, bị cáo V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản
án sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 02 năm tù là có cơ sở nên không chấp
nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Tuy nhiên, bị cáo V trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn
định, lỗi hỗn hợp (bị hại cũng có lỗi), hiện đang mất 79% sức khỏe, sức khỏe
yếu. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo nộp Giấy chứng nhận hộ nghèo năm 2026
và Giấy hẹn của Bệnh viện V1 hẹn bị cáo đến mổ nẹp xương hàm mặt (Tuy
nhiên bị cáo chưa đi mổ lại được) sắp tới vẫn phải tiếp tục chuẩn bị phẫu thuật
nẹp xương hàm mặt. Bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, tỉ lệ thương tích cao,
sức khỏe yếu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó nên khoan hồng cho bị cáo, cho
bị cáo hưởng án treo để bị cáo tiếp tục điều trị và an dưỡng với sự chăm sóc của
gia đình để phục hồi sức khỏe và tu dưỡng cải tạo tại địa phương.
[4] Quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
về việc cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần
nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lò Lực V. Sửa Bản
-- 7 of 9 --
8
án sơ thẩm số 50/2026/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 8 - Phú Thọ.
2. Căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2