CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc12/2026/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 01 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn”
anh chị được tự do tìm hiểu nhau một thời gian ngắn, chỉ khoảng hai đến ba
tháng. Sau khi kết hôn được một thời gian thì cuộc sống chung bắt đầu không
2
hạnh phúc, nguyên nhân chủ yếu là do chị phát hiện anh Triệu Văn Q hay chơi
cờ bạc trên mạng. Chị có khuyên can nhưng anh không từ bỏ được. Khoảng giữa
năm 2025, có người nhà nhìn thấy anh Triệu Văn Q vào nhà nghỉ với người phụ
nữa khác, chị có hỏi anh về việc này nhưng anh không thừa nhận, thậm chí còn
nói dối nhiều lần. Gia đình hai bên đã đứng ra hòa giải nhưng chị cảm thấy
không còn tình cảm với anh Triệu Văn Q. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không
ai còn quan tâm, hỏi han gì nhau nên yêu cầu ly hôn với anh Triệu Văn Q.
Về con chung: không có
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Triệu Văn Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành lấy
lời khai; mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án
và tại phiên tòa, anh Triệu Văn Q đều vắng mặt nên không có lời khai tại Tòa
án.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình nơi anh Triệu
Văn Q cư trú. Hiện anh Triệu Văn Q và chị Nông Thị H đã ly thân, không còn
chung sống với nhau. Đồng thời, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn
bản tố tụng cho người thân thích của anh Triệu Văn Q là bà Phùng Thị Hỏi theo
đúng quy định.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình thụ lý
giải quyết vụ án Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền, đúng mối quan hệ
pháp luật; việc thu thập chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đúng trình tự và đầy
đủ; việc tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên
cứu đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
các quy định về tố tụng; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy
định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sư, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.