CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc210/2026/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
2
nói chung và vợ chồng không còn hạnh phúc nữa và đã sống ly thân từ năm 2007
cho đến nay.
Nay bà xét thấy không còn tình cảm với ông V nữa nên bà quyết định ly hôn
với ông V.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông V có 02 con chung tên
Nguyễn Xuân Y, sinh năm 2000 và Nguyễn Xuân Q, sinh năm 2007, hiện nay con
đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà
không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết còn về
phần nợ thì vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay bà Nguyễn Ánh H yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Nguyễn Quốc V
- Về con chung: Gồm có 02 con chung tên Nguyễn Xuân Y, sinh năm 2000
và Nguyễn Xuân Q, sinh năm 2007, hiện nay con đã trưởng thành nên không yêu
cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc V: Đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo
về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công
khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông V đều vắng
mặt và có đơn xin vắng mặt và không có gửi văn bản ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa bà H và ông V vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà H khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn
ông V có địa chỉ ấp S, xã G, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 1 Luật số:
85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.