Điều 51. ; Điều 54; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị
cáo Nguyễn Tấn Phát mức án 02 năm 6 tháng đến 02 năm 9 tháng tù cho hưởng
án treo, thời gian thử thách là 5 năm.
Giao bị cáo Nguyễn Tấn P cho UBND xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư
trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
- Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự: Đề nghị trả lại cho ông Nguyễn Xuân T 01 mô tô nhãn hiệu Honda
Airblade, màu đỏ đen, biển số đăng ký 90B2-510.53 mang tên ông Trần Văn S,
sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã B, tỉnh Ninh Bình.
- Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại và bị cáo Nguyễn Tấn P đã thỏa
thuận bồi thường trách nhiệm dân sự với tổng số tiền là 130.000.000 đồng. Đại
diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường
bất kỳ khoản nào khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên
không đặt ra giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5
– Hưng Yên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt mức thấp
nhất để bị cáo cải tạo ngoài xã hội, có cơ hội học nghề, vì điều kiện hoàn cảnh gia
đình bị cáo khó khăn.
-- 4 of 10 --
5
Đại diện theo ủy quyền của bị hại: đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và
cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội học nghề; bị cáo còn trẻ, là con
thứ nhất trong gia đình đông anh em và gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết
định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên; Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ
luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu,
chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh
hiện trường ngày 04/9/2025; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến
tai nạn giao thông ngày 05/9/2025 tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh
Hưng Yên và bản ảnh phương tiện; Biên bản khám nghiệm tử thi lập hồi 06 giờ
40 phút ngày 06/9/2025, nội dung thể hiện: Khám nghiệm tử thi Trần Thị C, sinh
năm 1951, trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng Yên; Bản kết luận giám định
số 1126/KLGĐTT-KTHS ngày 25/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh Hưng Yên kết luận: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da, rách da,
phồng rộp da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, tay và chân. Khám trong: Vỡ xương
sọ vùng thái dương bên trái trái, chảy máu não. Nạn nhân Trần Thị C, sinh năm
1951, trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng Yên chết do chấn thương sọ não;
Bản ảnh tử thi kèm theo biên bản khám nghị tử thi lập ngày 25/9/2025; Giấy chứng
nhận thương tích ban đầu hồi 07 giờ 50 phút ngày 04/9/2025; Phiếu kết quả xét
nghiệm nồng độ cồn trong máu hồi 08 giờ 03 phút ngày 04/9/2025, nồng độ cồn
trong máu của Trần Thị C là dưới ngưỡng phát hiện; Phiếu kết quả xét nghiệm
nồng độ cồn trong máu hồi 11 giờ 35 phút ngày 04/9/2025, nồng độ cồn trong
máu của Nguyễn Tấn P là dưới ngưỡng phát hiện; Biên bản ghi lời khai của chị
Đặng Thị T, sinh năm 1984, tổ dân phố Nguyễn H, phường T, tỉnh Hưng Yên;
ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1982, trú tại thôn D, xã N, tỉnh Ninh Bình; ông
-- 5 of 10 --
6
Trần Văn S, sinh năm 1972, trú tại thôn P, xã B, tỉnh Ninh Bình; chị Đặng Thị T,
sinh năm 1979, trú tại tổ 7B, phường B, tỉnh Thái Nguyên; chị Đặng Thị B, sinh
năm 1977, trú tại thôn T, xã P, tỉnh Đ; anh Đặng Minh T, sinh năm 1981, trú tại
số 72A đường N, phường T, thành phố Hà Nội; ông Đặng Minh T, sinh năm 1951,
trú tại tổ dân phố T, phường T, tỉnh Hưng Yên; Biên bản ghi lời khai của người
làm chứng anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 2007, trú tại tổ dân phố T, phường T,
tỉnh Hưng Yên; Biên bản thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự và đơn đề
nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo
Nguyễn Tấn P là người có đầu đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị
cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9; điểm a, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật
tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 làm chết 01 người. Hành vi đã phạm
vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình
phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định: