CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên tòa số 78/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các
2
Về hôn nhân: Ông và bà Trần Thị Thủy T tự nguyện kết hôn, sau đó đăng ký
kết hôn vào ngày 13/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre
(nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm
2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có
tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Nay
ông nhận thấy đôi bên đã không còn tình cảm và không thể hàn gắn nên ông yêu
cầu ly hôn với bà T.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà T có 01 con chung tên
Khổng Tú Q sinh ngày 05/6/2019 hiện đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, ông
đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trì nh tố tụng vụ án, bị đơn bà Trần Thị Thủy T không có văn bản
thể hiện ý kiến của mì nh về yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Thanh S và không
đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng : Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án
xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quan hệ tranh
chấp. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh
Long theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau
khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật: xác
định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh tình trạng
mâu thuẫn giữa vợ chồng, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa
các đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo qui định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân
theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và việc
xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng
mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.