Mục lục - 13 điều ▼
Điều 56. ; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Bá H1 25 (Hai mươi lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù theo bản án số 91/2024/HSST ngày
29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai buộc Nguyễn Bá H1 phải chấp
hành hình phạt chung là 43 (Bốn mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 03/10/2025.
3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 119; Điều 122 Luật tư pháp
người chưa thành niên.
Xử phạt: Nguyễn Đức L1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù theo bản án số 256/2024/HSST ngày
31/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm buộc Nguyễn Đức L1 phải chấp
hành hình phạt chung là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày 14/10/2025. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 25/01/2024 đến
ngày 31/8/2024 theo bản án số 256/2024/HSST.
4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đỗ Duy K 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời
gian thử thách 54 (Năm mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
Giao Đỗ Duy K cho UBND phường X, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục
trong thời gian thử thách của án treo.
5. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ3 25 (Hai mươi lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
thời gian thử thách 50 (Năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
6. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Đỗ Đức Thiện T 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
-- 4 of 8 --
5
7. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Nguyễn Tiến Nam P1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội
“Gây rối trật tự công cộng”.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn Đ3, Đỗ Đức Thiện T, Nguyễn Tiến Nam P1 cho
UBND xã D, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án
treo.
8. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Nguyễn Trung H2 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
Giao bị cáo Nguyễn Trung H2 cho UBND xã H, thành phố Hà Nội giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
9. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Nguyễn Hữu P2 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời
gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối
trật tự công cộng”.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu P2 cho UBND xã S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo
dục trong thời gian thử thách của án treo.
10. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Phạm Quang K1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
thời gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
Giao bị cáo Phạm Quang K1 cho UBND phường P, thành phố Hà Nội giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
11. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: Hoàng Văn Đ1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời
gian thử thách 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối
trật tự công cộng”.
12. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58. ; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
Xử phạt: H (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách
32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công
cộng”.
13. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58;
Điều 65. của Bộ luật hình sự; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên
-- 5 of 8 --
6
Xử phạt: Nguyễn Công P 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời
gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật
tự công cộng”.
Ngoài ra Bản án còn T2 về chế định cho hưởng án treo, việc xử lý vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/01/2026 bị cáo Đỗ Hùng N kháng cáo bản án
hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
8, thành phố Hà Nội, đề nghị sửa án sơ thẩm, xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị
cáo được hưởng án treo với lý do hình phạt quá nặng đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Hùng N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
với lý do bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là quá nặng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình
phạt và hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Bị cáo Đỗ Hùng N nộp đơn kháng cáo
trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải
quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá toàn bộ tình tiết, nội dung vụ án,
nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật
tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Hùng N: Giữ
nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Hùng
N. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 56,
58,38; Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ Hùng N 27 ( hai mươi bảy) tháng tù về tội
“Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 20 tháng tù theo bản án số
256/2024/HSST ngày 31/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm buộc Đỗ
Hùng N phải chấp hành hình phạt chung là 47 (Bốn mươi bảy) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2025. Được trừ thời gian đã tạm giam từ
ngày 25/01/2024 đến 27/6/2024 theo bản án số 256/2024/HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Hùng N đảm bảo hình thức,
thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự,
thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung:
-- 6 of 8 --
7
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại cơ
quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan cùng các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ việc Đỗ Duy K và Đỗ Hùng N có mâu thuẫn với nhau nên vào tối
ngày 22/4/2025, Đỗ Duy K, Đỗ Hùng N, Phạm Quang K1, Nguyễn Đức L1, Nguyễn
Bá H1, Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Tiến Nam P1, Nguyễn Trung H2, Đỗ Đức Thiện
T, Nguyễn Hữu P2, Hoàng Xuân B, Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Công P đã cầm vũ khí ,
đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đi ngược chiều trên phần đường Quốc
lộ 32 đoạn đi qua thôn L, xã H, thành phố Hà Nội hướng đi vào trung tâm Hà Nội,
gây náo loạn, làm những người đi đường sợ hãi, gây tâm lý lo lắng, bất bình cho
người dân sống tại khu vực thôn L.
Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Hùng N cùng 12 bị cáo
khác về tội "Gây rối trật tự công cộng", tội danh và hình phạt quy định điểm b, khoản
2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người đúng tội, không oan.
[4] Về hình phạt: Xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cùng nhiều đồng
phạm khác tụ tập đông người mang theo hung khí, sử dụng phương tiện giao thông
là xe máy nguồn nguy hiểm cao độ đi với tốc độ cao, lạng lách đánh võng đuổi đánh
nhau trên đường, gây mất an toàn, mất trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang lo
sợ cho người phải tham gia giao thông. Bị cáo là nguyên nhân dẫn đến sự việc tội
phạm của cả hai nhóm. Nhân thân đã bị kết án về tội cùng loại, phạm tội lần này
trong thời gian thử thách của bản án trước cho hưởng án treo. Do vậy, khi quyết định
hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò đánh giá tính chất, mức độ
hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
và xử phạt bị cáo Đỗ Hùng N mức án 27 tháng tù là có căn cứ và phù hợp với hành
vi phạm tội của bị cáo.
Tại Toà án cấp phúc thẩm không có tình tiết nào mới và không có căn cứ để
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1
Điều 355. Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đỗ Hùng N.
Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự:
I. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Hùng N
II. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HSST ngày 09/01/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 8, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hùng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-- 7 of 8 --
8
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 56,
58, 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Hùng N 27 ( hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 20 tháng tù theo bản án số 256/2024/HSST
ngày 31/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm (cũ) , buộc Đỗ Hùng N
phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 47 (Bốn mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/5/2025. Được trừ thời gian đã tạm
giam từ ngày 25/01/2024 đến 27/6/2024 theo bản án số 256/2024/HSST.
Căn cứ đ