CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 06 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
2
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn
Văn T trình bày và yêu cầu như sau:
Ngày 08/8/2022, vợ chồng bà C ông T có cho bà Nguyễn Thị T1 vay số
tiền 200.000.000đ để làm vốn kinh doanh, bà T1 có ký vào giấy thỏa thuận
mượn tiền thừa nhận có vay số tiền trên. Từ đó đến nay bà T1 chưa trả lại
cho vợ chồng ông bà được khoản tiền nào.
Đến ngày 06/02/2023 vợ chồng bà C có cho bà Nguyễn Thị T1 mượn
số tiền xoay đồng vốn 281.700.000đ, bà T1 cam kết 05 ngày trả 01 lần là
25.000.000đ nhưng đến nay bà T1 chưa góp được khoản nào. Vì vậy bà T1
có viết tờ cam kết ký nhận là người nhận tiền vay giao cho ông bà giữ.
Nay vợ chồng bà C ông T yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải trả tổng số
tiền gốc, lãi 1,66%/tháng của cả 02 khoản tiền, thời hạn tính lãi đến tháng
02/2025 là: Đối với số tiền gốc 200 triệu đồng lãi tính từ ngày 08/8/2022 đến
tháng 02/2025 = 99.600.000 đồng; số tiền gốc 281.700.000đ lãi tính từ ngày
06/02/2023 đến tháng 02/2025 = 112.229.000 đồng. Vậy, tổng cộng bà T1
có nghĩa vụ trả cho vợ chồng bà C là 299.600.000đ + 393.929.000đ =
693.529.000đ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 có ý kiến: Số tiền 200.000.000đ, bà T1 cho
rằng liên quan đến giấy tờ nhà đất tôi mua của ông H, bà M và bà N, việc
này giữa bà với bà C có ký giấy tờ mua bán nhà đất nhưng thực chất là tiền
vay, số tiền này đã trả xong cho bà C từ rất lâu nhưng bà C không trả giấy
mua bán nhà đất cho bà mà còn kiện yêu cầu trả tiền, việc này đang được
Tòa án giải quyết ở một vụ kiện khác. Đối với số tiền 281.700.000đ là tiền
bà C giao 50 phần hụi cho bà. Sau khi nhận tiền hụi, bà T1 đã trả hết số tiền
vay 200.000.000đ có thế chấp giấy mua bán nhà đất nêu trên. Còn lại bà T1
đã đóng hụi chết xong cho bà C từ rất lâu. Vì vậy đối với 02 khoản tiền trên,
bà T1 không còn nợ nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C, ông
T.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 213/2025/DS-ST ngày 10 tháng 10 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - An Giang đã quyết định:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.