CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây
Bà với bà L là hàng xóm láng giềng gần nhà, bà có tham gia góp hụi do bà
L làm chủ thảo. Bà L khui hụi 1.000.000 đồng/ tháng, gồm 31 phần, khui ngày
10/8/2024 (DL), bà tham gia 02 phần. Mỗi tháng kêu hụi 02 lần, vào ngày nào
thì bà không nhớ rõ. Bà đã góp hụi được 14 kỳ tổng số tiền là 19.760.000 đồng,
vốn gốc, không tính tiền lãi hụi. Đến khoảng tháng 02/2025 thì bà L bể hụi.
Ngày 10/3/2025 nhưng bà L ghi nhầm thành ngày 10/3/2023, bà L lập Giấy tính
2
tiền hụi chốt lại số tiền còn nợ là 19.760.000 đồng, giao cho bà giữ. Nay bà yêu
cầu bà L và chồng là ông Lê Thái H trả số tiền 19.760.000 đồng, không yêu cầu
trả tiền lãi.
Tại biên bản lấy lời khai và bản tự khai ngày 09/4/2026 bà L đã khai:
Bà và bà T là hàng xóm, gần nhà. Bà T có tham gia góp hụi do bà làm chủ
thảo hụi, nhưng hiện nay không còn tham gia hụi với nhau, bà còn nợ tiền góp
hụi của bà T là 19.760.000 đồng. Giấy tính hụi ngày 10/3/2023 do con gái bà ghi
"Dì T khui D 10/8/2024 (2p)" tổng cộng còn nợ là 19.760.000đ. Việc bà T tham
gia góp hụi với bà thì chồng bà không biết. Bà xác nhận và đồng ý trả số tiền hụi
19.760.000đồng cho bà T nhưng do các hụi viên khác chưa đóng tiền hụi cho bà
nên chưa thanh toán tiền hụi cho bà T. Do đã lớn tuổi nên bà xin miễn án phí
theo quy định.
Tại biên bản lấy lời khai và bản tự khai ngày 11/3/2026 ông H đã khai:
Ông có biết việc bà L tổ chức góp hụi, ông và bà L, vợ chồng cùng sống
chung nhà và cùng sinh hoạt chung, nhưng nguồn tiền dùng sinh hoạt, chi tiêu
trong gia đình là sử dụng riêng. Chi tiêu trong gia đình chủ yếu do con gái ông
lo, nên số tiền thu được từ việc góp hụi của bà L không dùng chi tiêu trong sinh
hoạt chung cho gia đình, do đó ông không đồng ý có trách nhiệm L đới cùng bà
L trả tiền nợ hụi cho bà T. Do ông đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, đi lại khó khăn nên
ông không đến tòa, đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực
hiện đúng, đầy đủ quy định của BLTTDS về thụ lý vụ án, xác minh thu thập tài
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.