Chương I MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 3. Nhận đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo
1. Ngay sau khi nhận được đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo; Tòa án,
Viện kiểm sát vào sổ nhận đơn đề nghị. Tòa án, Viện kiểm sát ghi hoặc đóng dấu
nhận đơn ghi rõ ngày, tháng, năm nhận đơn đề nghị vào góc trên bên trái của đơn đề
nghị. Trường hợp sửa chữa thì người tiếp nhận đơn đề nghị phải ký xác nhận và đóng
dấu của Tòa án, Viện kiểm sát vào nội dung sửa chữa.
2. Trường hợp đơn đề nghị có đủ các nội dung theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo
Thông tư liên tịch này và có kèm theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ
theo quy định tại khoản 2 Điều 284a BLTTDS, thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp đương sự nộp trực tiếp đơn đề nghị tại Tòa án, Viện kiểm sát có
thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị, thì Tòa án, Viện kiểm sát ghi vào sổ
-- 2 of 23 --
14 CÔNG BÁO/Số 797 + 798/Ngày 18-11-2013
nhận đơn ngày, tháng, năm nhận đơn đề nghị. Ngày đề nghị kháng nghị là ngày
Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận đơn đề nghị;
b) Trường hợp đơn đề nghị được gửi đến Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem
xét, giải quyết đơn đề nghị qua đường bưu chính, thì Tòa án, Viện kiểm sát ghi vào sổ
nhận đơn ngày, tháng, năm nhận đơn đề nghị do nhân viên bưu chính chuyển đến và
ngày theo dấu bưu điện nơi gửi. Phong bì có dấu bưu điện phải được đính kèm đơn đề
nghị. Ngày đề nghị kháng nghị là ngày theo dấu bưu điện nơi gửi. Trường hợp không
xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện nơi gửi, thì thực hiện như sau:
b.1) Trường hợp ngày Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết
đơn đề nghị nhận được đơn do nhân viên bưu chính chuyển đến mà thời hạn quy định
tại khoản 1 Điều 284 BLTTDS vẫn còn, thì ngày đề nghị kháng nghị là ngày Tòa án,
Viện kiểm sát nhận được đơn do nhân viên bưu chính chuyển đến;
b.2) Trường hợp ngày Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết
đơn đề nghị nhận được đơn đề nghị do nhân viên bưu chính chuyển đến mà thời hạn
quy định tại khoản 1 Điều 284 BLTTDS đã hết, thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu bưu
điện và đương sự cung cấp ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện.
Trường hợp xác định được ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện, thì ngày đề
nghị kháng nghị là ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện.
Trường hợp không xác định được ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện, thì
ngày đề nghị kháng nghị là ngày ghi trong đơn đề nghị.
3. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ các nội dung theo Mẫu số 01 ban hành
kèm theo Thông tư liên tịch này hoặc không kèm theo bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật và tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình
là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 284a BLTTDS, thì Tòa án, Viện kiểm sát
xem xét, xử lý như sau:
a) Thông báo cho đương sự yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị, bổ sung bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời
hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Thông báo này phải
được làm bằng văn bản theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này,
trong đó phải nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người đề nghị biết để họ
thực hiện. Văn bản này có thể được giao trực tiếp hoặc gửi cho đương sự đề nghị qua
đường bưu chính. Việc giao trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính phải được ký nhận
vào sổ theo dõi và lưu tại cơ quan đã nhận đơn đề nghị;
b) Trường hợp đương sự sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát,
thì ngày đề nghị kháng nghị là ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được đơn đề nghị lần
đầu của đương sự hoặc là ngày theo dấu bưu điện nơi gửi theo hướng dẫn tại khoản 2
Điều này và khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này;
-- 3 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 797 + 798/Ngày 18-11-2013 15
c) Trường hợp hết thời hạn theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều này mà đương
sự không sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị hoặc không cung cấp được bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ kèm theo theo yêu cầu của Tòa
án, Viện kiểm sát có thẩm quyền, thì Tòa án, Viện kiểm sát thông báo bằng văn bản
cho đương sự về việc trả lại đơn đề nghị, tài liệu, chứng cứ kèm theo và chưa thụ lý đơn
đề nghị; trừ trường hợp do trở ngại khách quan;
d) Trường hợp đương sự có căn cứ cho rằng việc Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn
đề nghị không đúng theo quy định của BLTTDS và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch
này, thì đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn đề nghị. Việc khiếu nại và giải
quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của BLTTDS.