Số: 111/2026/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2026 và các lời khai trong quá trình
2
trên địa bàn xã T, tỉnh Tây Ninh không có thông tin đăng ký kết hôn giữa chị và anh
C. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tổ 4, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến khi xảy
ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường
xuyên gây gổ cãi nhau, cuộc sống nặng nề không hạnh phúc, trước đây nhiều năm
anh C còn đánh đập chị rất nhiều. Những mâu thuẫn nhỏ nhặt giữa vợ chồng tích tụ
nhiều năm không giải quyết được, nên chị không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc
cùng anh C, do đó chị yêu cầu ly hôn với anh C.
Về con chung: chị T và anh C có 04 con chung tên Nguyễn Kim N, sinh ngày
05-3-1999; Nguyễn Văn H, sinh ngày 28-3-2001; Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 20-01-
2008 và Nguyễn Thành N, sinh ngày 04-4-2014. Chị T đồng ý giao cháu N cho anh
C nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu N, chị không cấp dưỡng nuôi con; đối với
các cháu N, H, L đã thành niên nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02 tháng 4 năm 2026 và quá trình giải quyết vụ
án, bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
Về hôn nhân: anh thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian vợ chồng
chung sống năm 1998 là đúng, anh và chị T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân
xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là UBND xã T, tỉnh Tây Ninh), nhưng lúc cãi
nhau anh tức giận đã xé bỏ giấy chứng nhận kết hôn, hiện nay không thể cung cấp
giấy tờ để chứng minh. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên
nhân do anh gây nợ nần và thường đi lái xe xa nhà, khoảng 01 tuần đến 15 ngày mới
về nhà một lần, không thường xuyên dành thời gian quan tâm chăm sóc cho vợ con,
kể cả lúc vợ ốm đau bệnh tật, những mâu thuẫn nhỏ kéo dài nhiều năm nên chị T
buồn phiền và nộp đơn yêu cầu ly hôn với anh. Mặc dù anh đã năn nỉ, hoà giải nhưng
chị T vẫn C quyết yêu cầu ly hôn với anh nên anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh thống nhất với lời trình bày của chị T về họ tên, ngày tháng
năm sinh của 04 con chung là đúng. Anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N
theo nguyện vọng của cháu, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con; đối với các
cháu N, H, L đã thành niên, tự lao động nuôi sống được bản thân nên anh không yêu
cầu giải quyết.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.