CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQuyết định đƣa vụ án ra xét xử số 14/2017/QĐXX-ST ngày 07 tháng 4 năm 2017
đƣợc mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và bố
mẹ chồng mâu thuẫn nhau nhƣng anh Đ nhu nhƣợc, không bảo vệ chị mà nghe lời bố
mẹ, luôn tìm cách gây sự cãi nhau với chị và đuổi chị đi. Chị thấy cuộc sống chung
căng thẳng và nhiều áp lực nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống từ ngày 01/5/2008. Từ đó
đến nay anh Đ không quan tâm gì đến chị. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên
đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Đ.
Về quan hệ con chung: chị và anh Đ có một con chung là Đoàn Minh D, sinh
ngày 28/10/2005. Khi chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, chị đã đƣa con theo cùng. Nhƣng
2
sau đó, do chị và con đều ốm, chị không có điều kiện để nuôi con nên đã để anh Đ
nuôi con từ năm 2009 đến nay. Ban đầu, nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi con và
yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con cùng chị theo quy định của pháp luật. Sau khi biết
nguyện vọng của con muốn đƣợc ở cùng anh Đ, chị đã đồng ý để anh Đ nuôi con và
cấp dƣỡng nuôi con theo yêu cầu của anh Đ. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải, chị H lại
đề nghị đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con cùng chị.
Về tài sản chung: ban đầu chị xác định anh chị có tài sản chung gồm: 43 chỉ
vàng 9999, trị giá 148.565.000 đồng, 01 thửa đất diện tích 108m2, số thửa 324 thuộc
tờ bản đồ số 6 ở thôn D, xã Đ, huyện K (do bố mẹ anh Đ tặng cho), 01 sổ tiết kiệm
gửi tại bƣu điện thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh với số tiền 89.300.000 đồng, vàng
và tiền hiện anh Đ vẫn đang giữ, ngoài ra anh chị không còn tài sản chung gì khác.
Chị đề nghị Tòa án chia tài sản chung trên cho chị và anh Đ theo quy định của pháp
luật. Sau đó, chị xác định tài sản chung của chị và anh Đ chỉ có 43 chỉ vàng 9999 và
thửa đất 108m2, chị không đề nghị chia số tiền 89.300.000 đồng nữa, 43 chỉ vàng chị
quy đổi ra tiền VNĐ là 148.000.000 đồng. Về 43 chỉ vàng, chị yêu cầu anh Đ phải trả
chị một nửa giá trị bằng tiền là 74.000.000 đồng, về thửa đất, nếu anh Đ sử dụng toàn
bộ thì phải trả chị một nửa giá trị bằng tiền, nếu anh Đ không sử dụng thì chị sẽ sử
dụng và trả anh Đ một nửa giá trị bằng tiền. Sau khi có kết quả định giá tài sản, chị H
thay đổi quan điểm về việc chia thửa đất, chị đề nghị đƣợc sử dụng toàn bộ thửa đất
và trả giá trị chênh lệch cho anh Đ bằng tiền.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị
đơn là anh Đoàn Văn Đ trình bày về điều kiện, thời gian kết hôn giữa anh và chị H
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.