CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctòa số: 29/2026/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
2
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thi Ngọc Q, sinh năm
2002 và Nguyễn Ngọc Quế T1, sinh năm 2006. Các con chung đã trưởng thành
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về chia tài sản: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng tại
phiên tòa bà Đ trình bày lại là có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tòa án tiến hành lập thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án và phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy
đinh của pháp luật. Tuy nhiên, bi đơn ông Nguyễn Thanh T vắng mặt và không
cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận đinh:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Phan Thi Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.
Ông Nguyễn Thanh T có nơi cư trú tại ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 6 – Tây Ninh, được pháp luật
quy đinh tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo
khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật
hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
[2] Về sự có mặt của đương sự: bi đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án
thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều
vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ
án vắng mặt ông T.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về hôn nhân: bà Phan Thi Ngọc Đ và ông Nguyễn Thanh T chung
sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2001 là hôn nhân hợp pháp. Theo bà
Đ nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh
tế và vợ chồng không có tiếng nói chung nên bà không thể tiếp tục chung sống và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.