Chương I MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 3. Nhận đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo
1. Ngay sau khi nhận được đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo; Tòa
án, Viện kiểm sát vào sổ nhận đơn đề nghị. Tòa án, Viện kiểm sát ghi hoặc đóng
dấu nhận đơn ghi rõ ngày, tháng, năm nhận đơn đề nghị vào góc trên bên trái của
đơn đề nghị. Trường hợp sửa chữa thì người tiếp nhận đơn đề nghị phải ký xác
nhận và đóng dấu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát vào nội dung sửa chữa.
2. Trường hợp đơn đề nghị có đủ các nội dung theo Mẫu số 01 ban hành kèm
theo Thông tư liên tịch này và có kèm theo bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình
là có căn cứ thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp đương sự nộp trực tiếp đơn đề nghị tại Tòa án, Viện kiểm sát có
thẩm quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị thì Tòa án, Viện kiểm sát ghi vào sổ
-- 2 of 23 --
4 CÔNG BÁO/Số 795 + 796/Ngày 17-11-2013
nhận đơn ngày, tháng, năm nhận đơn đề nghị. Ngày đề nghị kháng nghị là ngày
Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận đơn đề nghị;
b) Trường hợp đơn đề nghị được gửi đến Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm
quyền xem xét, giải quyết đơn đề nghị qua đường bưu chính thì Tòa án, Viện
kiểm sát ghi vào sổ nhận đơn ngày, tháng, năm nhận đơn do nhân viên bưu chính
chuyển đến và ngày theo dấu bưu điện nơi gửi. Phong bì có dấu bưu điện phải
được đính kèm đơn đề nghị. Ngày đề nghị kháng nghị là ngày theo dấu bưu điện
nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện
nơi gửi thì thực hiện như sau:
b.1) Trường hợp ngày Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết
đơn đề nghị nhận được đơn do nhân viên bưu chính chuyển đến mà thời hạn quy định
tại khoản 1 Điều 211 Luật TTHC vẫn còn thì ngày đề nghị kháng nghị là ngày Tòa
án, Viện kiểm sát nhận được đơn do nhân viên bưu chính chuyển đến;
b.2) Trường hợp ngày Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải
quyết đơn đề nghị nhận được đơn đề nghị do nhân viên bưu chính chuyển đến mà
thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 211 Luật TTHC đã hết thì Tòa án, Viện kiểm
sát yêu cầu bưu điện và đương sự cung cấp ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại
bưu điện.
Trường hợp xác định được ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện thì
ngày đề nghị kháng nghị là ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện.
Trường hợp không xác định được ngày đương sự gửi đơn đề nghị tại bưu điện
thì ngày đề nghị kháng nghị là ngày ghi trong đơn đề nghị.
3. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ các nội dung theo Mẫu số 01 ban hành
kèm theo Thông tư liên tịch này hoặc không kèm theo bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật và tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu
của mình là có căn cứ thì Tòa án, Viện kiểm sát xem xét, xử lý như sau:
a) Thông báo cho đương sự về việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị, bổ
sung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ kèm
theo trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Thông báo
này phải được làm bằng văn bản theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên
tịch này, trong đó phải nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người đề nghị
biết để họ thực hiện. Văn bản này có thể được giao trực tiếp hoặc gửi cho đương sự
đề nghị qua đường bưu chính. Việc giao trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu chính
phải được ký nhận vào sổ theo dõi và lưu tại cơ quan đã nhận đơn đề nghị;
b) Trường hợp đương sự sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm
sát thì ngày đề nghị kháng nghị là ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được đơn đề
nghị lần đầu của đương sự hoặc là ngày theo dấu bưu điện nơi gửi theo hướng dẫn
tại khoản 2 Điều này và khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch này;
-- 3 of 23 --
CÔNG BÁO/Số 795 + 796/Ngày 17-11-2013 5
c) Trường hợp hết thời hạn theo hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều này mà
đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn đề nghị hoặc không cung cấp được bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ kèm theo theo yêu
cầu của Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền thì Tòa án, Viện kiểm sát thông báo
bằng văn bản cho đương sự về việc trả lại đơn đề nghị, tài liệu, chứng cứ kèm theo
và chưa thụ lý đơn đề nghị, trừ trường hợp do trở ngại khách quan;
d) Trường hợp đương sự có căn cứ cho rằng việc Tòa án, Viện kiểm sát trả lại
đơn đề nghị không đúng theo quy định của Luật TTHC và hướng dẫn tại Thông tư
liên tịch này thì đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn đề nghị. Việc
khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XVII
của Luật TTHC.