- Bị cáo Đ nộp lại số tiền 6.100.000 đồng do bị cáo Đ thu được từ việc bán
trái phép chất ma tuý để sung ngân sách của Nhà nước.
- Tiếp tục tạm giữ 6.830.000 đồng của bị cáo Được để đảm bảo thi hành án;
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh ngọc đã qua sử dụng (của bị
cáo Nguyễn Thành Đ).
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, đã qua sử dụng, bị vỡ màn
hình (của Lê Văn P).
Tịch thu tiêu huỷ:
- Chất ma túy còn lại sau giám định 129,603 gam, được niêm phong trong
các túi niêm phong gồm:
-- 6 of 14 --
+ Túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 23008159, được dán giấy niêm
phong, ghi “niêm phong số: 81/1, ngày 16/01/2025”, có đóng hình dấu đỏ tròn
của Phòng K Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1,
Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Phú B2 và Lê Văn P.
+ Túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 23008146, được dán giấy niêm
phong, ghi “niêm phong số: 81/2, ngày 16/01/2025”, có đóng hình dấu đỏ tròn
của Phòng K Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1,
Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Phú B2 và in các dấu vân tay đỏ ghi họ tên
Nguyễn Thành Đ.
+ Túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 23008148, được dán giấy niêm
phong, ghi “niêm phong số: 81/3, ngày 16/01/2025”, có đóng hình dấu đỏ tròn
của Phòng K Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1,
Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Phú B2, Đặng Thị Bé H và in các dấu vân tay đỏ
ghi họ tên Nguyễn Thành Đ.
- Dụng cụ để mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy gồm:
+ 03 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế bằng chai nhựa có thân màu trắng,
phần đáy màu đen, nắp màu đen, bên trên nắp có 02 lỗ tròn, 01 lỗ được cắm vào
một nỏ thuỷ tinh màu trắng, 01 lỗ được cắm vào một ống hút bằng nhựa màu
trắng dạng ống lò xo.
+ 01 cân điện tử màu trắng, đỏ đã qua sử dụng.
+ 01 hộp hình trụ màu đen, có nắp đậy, trên nắp có hoa văn màu vàng, bên
trong có chứa 05 (năm) đoạn ống mũ nhựa màu trắng, được hàn kín một đầu.
+ 01 hộp giấy màu tím – đỏ, bên trong có chứa hai cây kéo bằng kim loại
màu trắng, 01 (một) bật lửa màu xanh, 01 (một) bật lửa màu đỏ, 07 (bảy) bịch
nylon dạng nắp kẹp có viền màu trắng chưa qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng
keo màu trắng đã qua sử dụng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đ phát biểu quan điểm: Thống nhất với vị đại
diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo.
Đồng thời, vị luật sư viện dẫn về nguyên nhân phạm tội của bị cáo cùng các tình
tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình có
hoàn cảnh khó khăn và đang nuôi con còn nhỏ; Do đó, xin Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt chính và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận hay bào chữa
bổ sung mà chỉ thừa nhận hành vi của bị cáo là sai, bị cáo rất hối hận về việc
làm của mình.
Lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cáo bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-- 7 of 14 --
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng
trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ
quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của
các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng
vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy những người này đã được triệu
tập hợp lệ nhưng họ vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ
ràng và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử.
Do đó, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử
xét xử vắng mặt những người này.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thành Đ và Đặng Thị Bé H
đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo khẳng định hành vi
được mô tả trong bản cáo trạng số: 02/CT-VKSĐT-P1 ngày 30/01/2026 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của các bị
cáo.
Vào ngày 15/01/2025, Nguyễn Thành Đ đang cất giấu 130,456 gam ma
túy, loại Methamphetamine và MDMA trong nhà ở của mình tại khóm A,
phường A, tỉnh Đồng Tháp nhằm để bán lại cho người khác, thì đến 14 giờ 45
phút cùng ngày, Lê Văn P đến nhà bị cáo Đ mua 0,076 gam ma túy loại
Methamphetamine với số tiền 300.000 đồng, bị cáo Đ kêu bị cáo Đặng Thị Bé H
(sống chung như vợ chồng với bị cáo Đ) lấy 01 đoạn ống hút màu vàng hàn kín
có chứa ma túy mà Đ đã chuẩn bị sẵn giao cho P nhận thì bị lực lượng Công an
phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tổng khối lượng 130,456 gam (trong đó Được và
H bán cho Phần 0,076 gam ma túy; Được tàng trữ để bán 130,38 gam ma túy).
Ngoài ra, quá trình điều tra còn chứng minh được trước khi bị bắt quả tang
bị cáo Đ còn bán trái phép chất ma túy cho người khác 08 lần, thu được số tiền
6.100.000 đồng.
Đặng Thị Bé H dù biết rõ Nguyễn Thành Đ bán trái phép chất ma túy
nhưng vẫn giúp sức cho bị cáo Đ bán trái phép chất ma túy 01 lần, số tiền
300.000 đồng, với khối lượng ma túy 0,076 gam, loại Methamphetamine.
Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả
tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng với các
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án,
Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày
02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất
ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự, đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi
mua bán trái phép 130,456 gam ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo Đ là
có tội, đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm
b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đặng Thị Bé H dù biết rõ Nguyễn Thành Đ bán trái phép chất ma túy
nhưng vẫn giúp sức cho bị cáo Đ bán trái phép chất ma túy 01 lần, số tiền
-- 8 of 14 --
300.000 đồng, với khối lượng ma túy 0,076 gam, loại Methamphetamine do vậy
hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo
quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.